chương 1, nhóm tác giả đã trình bày cụ thể lý do lựa chọn đề tài và tổng quan về tình hình các nghiên cứu trước đây. Tiếp đó, nhóm tác giả giới thiệu các nét sơ lược về đề tài bao gồm mục đích, nhiệm vụ, đối tượng và phạm vinghiên cứu nhằm cung cấp hình dung cụ thể hơn về đề tài. Bằng cách sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu là định lượng và định tính, trong đó đặc biệt chú trọng phương pháp định tính, nhóm tác giả trình bày những đóng góp khác biệt của đề tài trong hệ thống nghiên 9 cứu về hành vi xuất khẩu. Trong chương tiếp theo, nhóm tác giả sẽ giới thiệu các cơ sở lý thuyết được áp dụng để tạo tiền đề cho các giả thuyết nghiên cứu của mình.
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Quyết định xuất khẩu Theo Simpso và Kujawa (1974), các quyết định trong kinh doanh là một quá trình nhận thức rủi ro và ước tính lợi nhuận, trong đó có quyết định xuất khẩu. Cùng với rủi ro, khi doanh nghiệp nhận diện được lợi nhuận tiềm năng mà xuất khẩu mang lại, quyết định này được xem là có giá trị dương nếu doanh nghiệp xuất khẩu, ngược lại mang giá trị âm nếu doanh nghiệp không xuất khẩu. Quá trình này bắt đầu bằng sự xem xét cân nhắc dựa trên nguồn lực của doanh nghiệp và rào cản của quá trình gia nhập, với nguồn động lực chính đến từ lợi nhuận.
Dưới cấp độ vi mô, Roberts và Tyborts (1997) cũng đã xây dựng mô hình nghiên cứu về quyết định xuất khẩu dựa trên mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Theo đó, khi lợi nhuận ước tính thu được từ thị trường nước ngoài dương, doanh nghiệp sẽ xuất khẩu và không trong trường hợp còn lại. Theo Ekaterina Nemkova và cộng sự (2016), quyết định xuất khẩu được xem là một trong những yếu tố đem đến thành công cho doanh nghiệp. Tuy vậy, quá trình này được thực hiện như thế nào vẫn còn ít được biết đến.
Ogawa và cộng sự (2015) đã phân loại thành 2 quyết định: quyết định tham gia xuất khẩu (extensive) và quyết định mức độ xuất khẩu (intensive). Một cách định lượng, quyết định tham gia xuất khẩu được xem là biến nhị phân phản ánh việc doanh nghiệp có xuất khẩu hay không, trong khi đó quyết định mức độ xuất khẩu được đo bằng tỷ lệ giữa kim ngạch xuất khẩu so với doanh thu bán hàng của doanh nghiệp. Các hình thức của xuất khẩu Trong giáo trình về xuất khẩu bởi Lê Ngọc Hải, xuất khẩu có thể biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, trong đó có hai hình thức chính là xuất khẩu trực tiếp và xuất khẩu gián tiếp. Xuất khẩu trực tiếp là việc xuất khẩu hàng hóa do chính doanh 10 nghiệp sản xuất ra (đối với doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo) thông qua chính tổ chức của mình.
Trong khi đó xuất khẩu gián tiếp là hình thức xuất khẩu thông qua một bên thứ ba gọi là trung gian. Trong phạm vi đề tài, doanh nghiệp xuất khẩu trực tiếp hay gián tiếp đều được tính là một quan sát, các hình thức xuất khẩu khác sẽ không được xem xét đến. Doanh nghiệp nhỏ và vừa Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa khác nhau về DNNVV. Trong đề tài này, nhóm tác giả sẽ sử dụng tiêu chí phân loại DNNVV dựa theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP để lựa chọn chủ thể nghiên cứu.Theo nghị định số 56/2009/NĐ-CP, DNNVV là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân mỗi năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
Cụ thể: Bảng 2. Định nghĩa doanh nghiệp nhỏ và vừa theo nghị định 56/2009/NĐ Quy mô DN siêu nhỏ DN nhỏ DN vừa Số lao động Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động Khu vực nguồn vốn động vốn I. Nông, lâmnghiệp 10 người trở 20 tỷ đồng trên 10 đến Trên 20 đến trên 200 đến và thủy sản (A) xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người II. Công nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng trên 10 đến Trên 20 đến trên 200 đến xây dựng (B-F) xuống trở xuống 200 người 100 tỷ đồng 300 người III.
Thương mại và 10 người trở 20 tỷ đồng trên 10 đến trên 10 đến trên 50 đến dịch vụ (G-U) xuống trở xuống 50 người 50 tỷ đồng 100 người Nguồn: Trích khoản 1 điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 Như đã đề cập, đề tài nghiên cứu về quyết định xuất khẩu của DNNVV ngành công nghiệp chế biến chế tạo thuộc khu vực kinh tế tư nhân tại Việt Nam. Do vậy nhóm đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp có tổng số vốn dưới 100 tỷ đồng hoặc 11 lao động dưới 300 người (nhóm ngành công nghiệp chế biến chế tạo thuộc nhóm C, khu vực II). Tuy nhiên, các doanh nghiệp khảo sát trong bộ dữ liệu lại được phân loại theo tiêu chícủaWorld Bank hiện hành (doanh nghiệp siêu nhỏ có tối đa 10 lao động, doanh nghiệp quy mô nhỏ: dướihoặc bằng 50 lao động, doanh nghiệp quy mô vừa: dưới hoặc bằng 300 lao động và doanh nghiệp lớn: trên 300 lao động). Xét về tổng thể, tiêu chí của World Bank vẫn đáp ứng được tiêu chí của nghị định 56 về số lượng lao động, cụ thể cả hai tiêu chí đều cho rằng DNNVV có dưới 300 lao động.
Nhóm doanh nghiệp ngoài nhà nước (khu vực kinh tế tư nhân) Theo điều tra kinh tế 2015, doanh nghiệp ngoài Nhà nước gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, mà nguồn vốn thuộc sở hữu tư nhân hoặc nhà nước chiếm dưới 50% vốn điều lệ. Khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước gồm: (1) Các doanh nghiệp tư nhân; (2) Các công ty hợp danh; (3) Các công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân; (4) Các công ty cổ phần không có vốn nhà nước; (5) Các công ty cổ phần có tỷ lệ vốn nhà nước từ 50% vốn điều lệ trở xuống.Trong phạm vi đề tài, chủ thể nghiên cứu gồm các mục (1), (2), (3), (4) không bao gồm mục (5). Thêm vào đó, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (cho dù chiếm dưới 50%) vẫn sẽ không được tính vào số quan sát trong mô hình. Lý do là vì các đặc tính khó nắm bắt của nhóm doanh nghiệp liên quan đến chính phủ và nước ngoài.
Theo sách trắng DNNVV 2017, hầu hết các doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ tập trung ở khu vực DN ngoài nhà nước. Sự thiếu hụt doanh nghiệp vừa và lớn chủ yếu cũng xuất phát từ khu vực này. Cơ cấu số lượng các loại hình doanh nghiệp (DN) dựa trên quy mô Đơn vị: doanh nghiệp Loại hình DN nhà nước DN ngoài nhà nước DN nước ngoài (FDI) DN Năm 2014 Năm 2015 Năm 2014 Năm 2015 Năm 2014 Năm 2015 DN lớn 1.532 Ghi chú: (*): DNNVV được phân loại theo tiêu chí về số lượng lao động Nguồn: Sách Trắng DNNVV 2017 Biểu đồ 2. Cơ cấu về số lượng và kim ngạch xuất khẩu của các nhóm doanh nghiệp Đơn vị: phần trăm (%) 120.00% Tỷ trọng số lượng doanh nghiệp 40.74% Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu 20.00% Doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhà nước ngoài nhà FDI nước Nguồn: nhóm tác giả tổng hợp từ Sách trắng DNNVV 2017 Bảng 2.2 mô tả chi tiết cơ cấu của nhóm doanh nghiệp ngoài nhà nước so với 2 nhóm còn lại.
Rõ ràng, nhóm này có số lượng DNNVV áp đảo với trên 422.000 doanh nghiệp vào năm 2015. Mặc dù chiếm số lượng rất lớn trong 3 loại hình nhưng kim ngạch xuất khẩu của nhóm doanh nghiệp ngoài nhà nước lại đứng cuối cùng với khoảng 50 tỷ USD năm 2016, trong khi con số này của nhóm doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp FDI lần lượt là 176,6 và 126,2 tỷ USD.1 so sánh cơ cấu giữa số lượng của 3 nhóm doanh nghiệp vào năm 2015 và cơ cấu kim ngạch xuất khẩu vào năm 2016. Dựa vào biểu đồ này, tương quan giữa số lượng và tỷ trọng xuất khẩu của 3 nhóm doanh nghiệp được thể hiện rõ nét. Nhóm tác giả cho rằng hành vi xuất khẩu của mỗi nhóm có khả năng khác nhau, do đó việc cung cấp lý giải về quyết định xuất khẩu của nhóm DNNVV khu vực tư nhân là điều cấp thiết.
Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (manufaturing) Theo danh mục hệ thống ngành kinh tế của Việt Nam (2015), công nghiệp chế biến, chế tạo có mã ngành C, nằm trong khu vực II (bảng 2.1), được chia thành 24 ngành cấp 2 có số ISIC 2 ký tự từ 10 đến 33. Tính đến hết năm 2014, tổng số lượng doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến chế tạo là 63.251 doanh nghiệp, trong đó lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa là 59.892 doanh nghiệp (phân theo tiêu chí về số lượng lao động), chiếm đến 94,7%, trong đó doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 96,5 % tổng số lượng doanh nghiệp. Trong các tài liệu thống kê quốc tế, ngành công nghiệp chế biến chế tạo còn được hiểu là toàn bộ khu vực công nghiệp (khu vực II) trừ những ngành khai khoáng, xây dựng và những ngành cung cấp tiện ích xã hội. Theo Sách trắng DNNVV 2017, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với vai trò được ví như là trụ cột, là “xương sống” trong cơ cấu kinh tế Việt Nam.
Một số học thuyết nghiên cứu về hành vi xuất khẩu của doanh nghiệp Các lý thuyết về hành vi xuất khẩu đã ra đời và phát triển từ lâu. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, các kết quả thực nghiệm với mục đích kiểm định cùng một lý thuyết nghiên cứu vẫn cho thấy sự bất đồng. Dưới đây là một số lý thuyết về hành vi xuất khẩu mà nhóm tác giả lựa chọn một số lý thuyết dưới đây nhằm tạo tiền đề cho giả thuyết nghiên cứu của mình. Lý thuyết về tính không đồng nhất của doanh nghiệp (Heterogeneous-firm trade theory) Lý thuyết về tính không đồng nhất của doanh nghiệp xuất hiện từ giữa những năm 90 của thế kỷ XX, trong đó Bernard và Jensen (1995) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên về sự không đồng nhất giữa các doanh nghiệp xuất khẩu và không xuất khẩu.
Khi vai trò của xuất khẩu đối với nền kinh tế Mỹ được công nhận, cùng với sự gia tăng của dữ liệu cấp độ vi mô (Redding, 2010), các nghiên cứu với cấp độ doanh nghiệp liên quan đến hành vi xuất khẩu cũng bắt đầu được chú ý. Trước đây, vì các lý 14 thuyết cổ điển giả định các doanh nghiệp đồng nhất và đối xứngdẫn đến sự không nhất quán giữa bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm.