Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu 5 Chương trình bày các nội dung bao quát như: lí do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và bố cục nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan Chương trình bày các nội dung về cơ sở lý thuyết như: thẻ tín dụng, hành vi người tiêu dùng, quyết định sử dụng của người tiêu dùng, mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), lý thuyết hành động hợp lý (TRA), lý thuyết hành vi có kế hoạch, các nghiên cứu trong và ngoài nước được định hướng để từ đó là cơ sở đưa ra các nhân tố trong mô hình nghiên cứu của tác giả. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương trình bày các nội dung: đề xuất mô hình nghiên cứu từ các giả thuyết và các nghiên cứu trước, trình bày nội dung nghiên cứu theo phương pháp định tính và định lượng. Hình thành thang đo nghiên cứu và tiến hành khảo sát để có thể mã hóa dữ liệu đã thu thập theo các phương pháp phân tích dữ liệu như: đánh giá độ tin cậy thang đo Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích hồi quy đa biến, kiểm định T-test và phân tích ANOVA.
Tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS 26.0 để thực hiện phân tích và kiểm định. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Từ những dữ liệu thu thập được thông qua lập bảng khảo sát, tác giả tiến hành mã hóa dữ liệu và phân tích theo các phương pháp đã nêu tại Chương 3. Sau đó, tác giả thể hiện kết quả theo từng phương pháp và phân tích, đưa ra đánh giá về mức độ ảnh hưởng của 6 biến độc lập đối với biến phụ thuộc. Chương 5: Kết luận và khuyến nghị Tác giả trình bày tóm tắt lại kết quả nghiên cứu từ Chương trước để phân tích những phát hiện chính và thảo luận về những phát hiện sau quá trình nghiên cứu.
Từ đó, đưa ra các khuyến nghị giúp góp phần cải thiện sản phẩm, 6 dịch vụ cũng như các hạn chế được tác giả nêu ra để các nghiên cứu sau về đề tài này sẽ có cơ sở dữ liệu nghiên cứu tốt hơn. 1 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về thẻ tín dụng và các giả thuyết như: hành vi người tiêu dùng, và các mô hình liên quan đến lựa chọn quyết định sử dụng của người dùng. Thẻ tín dụng • Khái niệm thẻ tín dụng: “Thẻ tín dụng (credit card) là thẻ cho phép chủ thẻ thực hiện giao dịch thẻ trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được cấp theo thỏa thuận với tổ chức phát hành thẻ” – theo Khoản 3, Điều 3, Thông tư số 19/2016/TT- NHNN đã đưa ra định nghĩa về thẻ tín dụng. Thẻ tín dụng là công cụ hỗ trợ người tiêu dùng thanh toán dễ dàng hơn các giao dịch chi tiêu ngay cả khi trong tài khoản không có sẵn tiền, hay còn gọi là phương thức “chi tiêu trước, thanh toán sau” tùy thuộc vào hạn mức được qui định phù hợp với điều kiện của mỗi khách hàng.
Từ khi chủ thẻ sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán các hóa đơn hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt tại các trụ ATM đến khi trả tiền lại cho ngân hàng phát hành còn gọi là thời gian miễn lãi đối vớ số dư nợ cuối kỳ thường dao động trong khoảng 45 đến 55 ngày tùy vào loại thẻ tín dụng của các NHPH khác nhau. Nếu đến thời hạn ngân hàng thông báo thanh toán mà chủ thẻ vẫn chưa thanh toán hoặc không thanh toán hết số tiền đã sử dụng thì sẽ phải chịu tiền lãi dựa trên số tiền giao dịch được tính từ ngay phát sinh giao dịch đó. Khách hàng có thể chọn thanh toán số tiền tối thiểu, hoặc trả hết tất cả số tiền đã sử dụng trong thẻ trước đó hoặc thanh toán từng phần dựa vào khả năng chi trả thẻ trên thu thập của họ. Đặc biệt, đối với việc rút tiền mặt, người dùng sẽ không được hưởng ưu đãi miễn lãi, tiền phí và tiền lãi sẽ được tính ngay khi giao dịch được thực hiện.
Khách hàng có thể đăng ký nhận sao kê tài khoản qua email hoặc nhận trực tiếp tại ngân hàng và chủ 2 động kiểm tra các thông tin thẻ tín dụng cũng như sao kê giao dịch qua Mobile Banking để có thể nắm được chi tiết các giao dịch đã phát sinh. Thẻ tín dụng có tính chất tuần hoàn khi toàn bộ số tiền giao dịch phát sinh được hoàn trả lại cho ngân hàng thì hạn mức tín dụng của chủ thẻ sẽ được khôi phục lại như ban đầu. • Đặc điểm: Tính chất vay mượn: là đặc điểm nổi bật nhất của thẻ tín dụng, cho phép chủ thẻ được chi tiêu trước và trả tiền sau dựa trên hạn mức tín dụng được TCPH cấp. Với đặc điểm này, chủ thẻ có thể thanh toán các giao dịch mua sắm hàng hóa, dịch vụ mà không cần phải có tiền ngay thời điểm đó.
Việc này giúp người dùng chủ động hơn trong việc chi tiêu, đặc biệt trong những trường hợp nhu cầu cần thiết phát sinh mà người dùng không có đủ tiền để thanh toán. Tính tiện lợi: chủ thẻ có thể thanh toán hàng hóa, dịch vụ, đặt vé máy bay, đặt phòng khách sạn, thanh toán trực tuyến qua Internet,… tại các điểm chấp nhận thanh toán có các biểu tượng như Visa, MasterCard, JCB,… hoặc trên tất cả các website có chức năng thanh toán trực tuyến. Bên cạnh đó, người dùng còn có thể rút tiền mặt trực tiếp tại các máy ATM. Cũng như việc thanh toán dư nợ phát sinh mỗi tháng tiện lợi thông qua nhiều kênh như: thanh toán tiền mặt tại quầy, trích nợ tự động, chuyển khoản,… Tính an toàn: thẻ tín dụng được thiết kế với phương thức bảo mật ngày càng cao nhằm đáp ứng việc thanh toán trên toàn cầu, giúp người dùng có thể an tâm thanh toán các giao dịch hàng hóa, dịch vụ và đặc biệt là việc thực hiện các giao dịch với các quốc gia khác trên thế giới.
Giá trị gia tăng: chủ thẻ được nhận nhiều giá trị gia tăng như tích lũy điểm thưởng có giá trị quy đổi thành tiền mặt hoặc quà tặng khi chi tiêu càng nhiều thông qua thẻ. Ngoài ra, khách hàng còn có thể được hưởng nhiều chính sách ưu đãi như: hoàn tiền cho các giao dịch chi tiêu trực tuyến, 3 các voucher giảm giá khi mua hàng tại các điểm liên kết với TCPH thẻ, được hưởng các dịch vụ chăm sóc dành riêng cho các hạng thẻ Platinum tại sân bay, bệnh viện. Giá trị gia tăng cũng là một điểm quan trọng trong việc khai thác và mở rộng thị trường cạnh tranh thẻ tín dụng cũng như tạo sự khác việc, không ngừng nâng cấp và đổi mới để phát triển. • Phân loại thẻ tín dụng: Theo hạng thẻ: Thẻ hạng chuẩn (Thẻ Standard/Classic): hạng thẻ phù hợp với đối tượng có thu nhập trung bình và chi tiêu không thường xuyên qua thẻ tín dụng cũng như hạn mức mong muốn và thu nhập thỏa điều kiện cấp thẻ không cao.
Đây là loại thẻ có hạn mức thấp nhất trong các loại thẻ và các loại chi phí liên quan như: phí thường niên, phí cấp lại thẻ cũng được duy trì ở mức thấp. Thẻ vàng (Thẻ Gold): hạng thẻ có nhiều điểm nổi bật hơn thẻ hạng chuẩn như: hạn mức được cấp và sử dụng ở mức cao hơn, nhiều ưu đãi đi kèm hơn và do đó các mức phí liên quan cũng sẽ cao hơn, điển hình như phí thường niên. Thẻ bạch kim (Thẻ Platinum): hạng thẻ có hạn mức tín dụng và các ưu đãi đi kèm ở mức cao nhất trong các hạng thẻ. Đối tượng khách hàng sử dụng hạng thẻ này cũng có sự khác biệt nhất định về thu nhập để quyết định đến hạn mức được cấp như mong muốn.
Hạng thẻ này cũng mang ý nghĩa khẳng định bản thân cho chủ thẻ khi sử dụng. Theo công nghệ sản xuất: Thẻ in nổi: loại thẻ trên bề mặt được khắc nổi các thông tin cần thiết. Hiện tại, loại thẻ này ít được sử dụng vì quá thô sơ và dễ bị làm giả. Thẻ băng từ (Magnetic Stripe): loại thẻ mà các thông tin chủ thẻ vừa được dập nổi ở mặt trước, vừa được mã hóa bằng dải băng từ ở mặt sau được cấu tạo từ các hạt từ tính dùng để lưu trữ thông tin khách hàng và 4 được mã hóa thông tin theo chuẩn ISO.
Mặt hạn chế của loại thẻ này: số lượng thông tin của thẻ vẫn chưa được mã hóa đồng đều, khách hàng có nguy cơ bị đánh cắp thông tin vì khó áp dụng kỹ thuật an toàn trong mã hóa. Thẻ chip (Smart Card): là loại thẻ thông minh, có gắn vi mạch hay còn gọi là con chip điện tử trên bề mặt thẻ. Các ngân hàng hiện nay đều sử dụng công nghệ chip EMV để bảo mật và mã hóa các thông tin quan trọng về chủ sở hữu thẻ tín dụng. Do đó, thẻ chip ra đời nhằm khắc phục các hạn chế của thẻ từ.
Thẻ một chạm: loại thẻ đang dần trên đà phát triển và phổ biến tại một có điểm trong việc thanh toán vì sự nhanh chóng, tiện lợi và mang lại sự an toàn tuyệt đối về bảo mật thông tin. Đây là hình thức cho phép chủ thẻ chỉ cần đặt gần, vẫy hoặc chạm nhẹ thẻ trên thiết bị đọc thẻ (POS) có chức năng thanh toán chạm để thực hiện giao dịch thay vì việc quẹt thẻ hay phải nhập mã PIN khi khách hàng giao dịch tại quầy. • Lợi ích khi sử dụng thẻ tín dụng: An toàn đối với chủ thẻ: khi sử dụng tiền mặt và rơi vào các trường hợp mất tiền do bị trộm, cắp thì việc mất mát này có khả năng cao không thể thu hồi lại. Nếu sử dụng thẻ tín dụng và rơi vào trường hợp mất mát, chủ thể vẫn có thể đảm bảo sự an toàn bằng việc báo ngay với TCPH để khóa thẻ, thủ tục khá đơn giản bằng việc trả lời đúng các câu hỏi bảo mật khi cấp thẻ.
Khi thông báo nhanh chóng về việc bị đánh cắp hoặc mất thẻ, chủ thẻ sẽ không phải chịu trách nhiệm với các giao dịch phát sinh trong thời gian thẻ đã được khóa. Dòng tiền trong lưu thông giảm: khi thị hiếu sử dụng thẻ tín dụng càng phát triển sẽ đẩy mạnh về việc thanh toán không dùng tiền mặt theo các triển khai của Thủ tướng Chính phủ.