chương 1, tác giả đưa ra lý do chọn đề tài, trình bày tổng quan về mục tiêu, câu hỏi, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày về phương pháp của nghiên cứu, đóng góp và bố cục của khoá luận. Những định hướng nêu trên là cơ sở để tác giả trình bày đề tài này ở những chương tiếp theo. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về thẻ tín dụng 1.1 Khái niệm thẻ tín dụng Theo Khoản 5, Điều 2 Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng ( Ban hành kèm theo Quyết định số 20/007/QĐ- NHNN ngày 15/05/2007 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước), thẻ tín dụng là một công cụ thanh toán linh hoạt và tiện lợi, cho phép chủ thẻ thực hiện các giao dịch mua sắm, thanh toán và rút tiền mặt trong phạm vi hạn mức tín dụng đã được thỏa thuận trước đó với tổ chức phát hành thẻ. Theo Trần Thị Linh (2020) thẻ tín dụng là một phương tiện thanh toán hiện đại cho phép chủ thẻ thanh toán hàng hoá-dịch vụ bằng thẻ với hạn mức chi tiêu nhất định. Hạn mức chi tiêu này được ngân hàng quy định cho từng chủ thẻ dựa trên khả năng tài chính, số tiền ký quỹ hoặc tài sản thế chấp làm giá trị đảm bảo. Thực chất đây là hình thức toán không dùng tiền mặt cho phép chi tiêu trước trả tiền sau với thời hạn ưu đãi không tính lãi lên đến 45 ngày.
Theo Al-Swah (2006) đã định nghĩa thẻ tín dụng là một công cụ ngân hàng (Banking tool) đã sử dụng để đáp ứng các nghĩa vụ do tổ chức tài chính ( tổ chức phát hành thẻ) cấp cho một cá nhân hoặc pháp nhân (chủ thẻ) để cho phép các khách hàng có thể rút tiền mặt từ các ngân hàng hoặc mua hàng hoá dịch vụ từ các tổ chức thương mại với các cam kết nhất định. Tóm lại, thẻ tín dụng là một trong các sản phẩm của Ngân hàng với vai trò là một công cụ dùng để thanh toán các khoản chi tiêu của Khách hàng mà không cần phải sử dụng đến tiền mặt. Mục đích chính của thẻ tín dụng là ― Dùng trước, trả sau" nghĩa là Khách hàng sẽ được Ngân hàng cung cấp cho một hạn mức tín dụng tuỳ theo hệ thống Ngân hàng đánh giá sau đó Khách hàng có thể thoải mái chi tiêu trong khoản tín dụng đó bằng nhiều hình thức khác nhau như trả qua các ứng dụng điện tử, thanh toán trực tuyến, thanh toán trực tiếp tại các máy POS,. Tới cuối kỳ tín dụng, Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán số tiền đã sử dụng trong hạn mức lại cho Ngân hàng.
Thực chất thẻ tín dụng là một sản phẩm kết hợp giữa tín dụng và thanh toán. Nghĩa là Ngân hàng cấp cho Khách hàng một thẻ tín dụng cùng với hạn mức nhưng đây chỉ là việc Ngân hàng bảo đảm với Khách hàng về khoản tiền này nhưng khoản tiền này có 8 trở thành tín dụng hay không thì phụ thuộc vào quá trình sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.2 Phân loại thẻ tín dụng Phân loại thẻ tín dụng theo hình thức Thẻ tín dụng vật lý là tất cả thẻ tín dụng do Ngân hàng phát hành có hình thức hiện hữu vật chất, thông thường được làm bằng chất liệu nhựa, có gắn chíp điện tử để lưu giữ dữ liệu thẻ. Thẻ tín dụng phi vật lý là thẻ tín dụng do Ngân hàng phát hành không hiện hữu bằng hình thức vật chất, tồn tại dưới dạng điện tử và chứa các thông tin trên thẻ, được phát hành cho chủ thẻ để giao dịch trên môi trường trực tuyến, chương trình ứng dụng trên thiết bị di động, không bao gồm các trường hợp thẻ vật lý có đăng ký chức năng để giao dịch trên môi trường trực tuyến, chương trình ứng dụng trên thiết bị di động. Thẻ tín dụng phi vật lý do Ngân hàng phát hành không in/dập ra thẻ vật và không phát hành thẻ phụ.
Phân loại thẻ tín dụng theo phạm vi sử dụng Thẻ quốc tế là loại thẻ được cấp phép và phát hành bởi các tổ chức tín dụng, cho phép người dùng sử dụng tại các quốc gia khác nhau trên toàn cầu Thẻ nội địa là loại thẻ được phát hành và chỉ có thể sử dụng trong phmaj vi quốc gia nơi thẻ được phát hành. Phân loại thẻ tín dụng theo chủ thể sử dụng Đối với cá nhân là thẻ tín dụng phát hành cho một cá nhân là tất cả hoạt động như chi tiêu, thanh toán đều phụ thuộc vào cá nhân đó và có nhiệm vụ thanh toán các khoản phí khi đến kỳ thanh toán. Đối với thẻ dành cho cá nhân, Khách hàng có thể mở cả thẻ chính và thẻ phụ với mục đích khác nhau. Cụ thể, đối với thẻ chính, đây là thẻ đứng tên của cá nhân đó và tất cả hồ sơ liên quan.
Với hạn mức của thẻ chính được cấp tối đa theo quy định của sản phẩm thẻ tín dụng mà Khách hàng lựa chọn và theo từng nhóm Khách hàng mà Ngân hàng quy định. Còn đối với thẻ phụ chủ thẻ mở thêm để cho người khác sử dụng nhưng mọi trách nhiệm liên quan đến việc chi tiêu thì người chủ thẻ chính phải đảm nhận. Với hạn mức của thẻ phụ là hạn mức của thẻ chính và tối đa bằng 100% hạn mức thẻ chính. Để có thể mở được thẻ phụ thì Khách hàng phải có ít nhất 01 thẻ tín dụng do Ngân hàng đó phát hành cũng như tại thời 9 điểm xét phát hành thẻ tín dụng phụ, các thẻ tín dụng của Khách hàng tại Ngân hàng không bị chậm thanh toán thẻ, không bị khoá thẻ và các yêu cầu khác có liên quan.
Đối với doanh nghiệp là loại thẻ tín dụng dùng cho đối tượng là các tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng và dùng tiền cho các hoạt động phát sinh của tổ chức, doanh nghiệp đó. Cụ thể một cá nhân sẽ được sử dụng thẻ tín dụng của doanh nghiệp khi được các cấp trên uỷ quyền kèm các giấy uỷ quyền theo quy định. Thẻ tín dụng doanh nghiệp giúp doanh nghiệp thuận lợi trong các việc như hỗ trợ tiền đi công tác cho nhân viên giúp nhân viên thuận tiện hơn khi không phải ngoại tệ đối với các các chuyến công tác gấp và các chi tiêu thường ngày khi gặp đối tác, khi thanh toán các khoản tiền gấp khi doanh nghiệp không kịp nhận được tiền giải ngân từ ngân hàng,. Phân loại thẻ tín dụng theo thương hiệu mạng lưới thanh toán Hiện nay các mạng lưới thanh toán thẻ tín dụng quốc tế lớn trên thế giới bao gồm VISA, MasterCard, JCB và American Express.
Ở Việt Nam, VISA và MasterCard là 2 thương hiệu được Khách hàng ưu tiên chọn lựa. Vì cả hai thương hiệu này được chấp nhận trong các giao dịch trên hơn 150 quốc gia. Thẻ tín dụng VISA có mạng lưới thanh toán quốc tế do tổ chức Visa International Service Association ở Mỹ cung cấp và đây là một mạng lưới được liên kết với nhiều ngân hàng khác nhau trên toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Thẻ MasterCard là loại thẻ có mạng lưới thanh toán được cung cấp bởi công ty MasterCard Worldwide.
Dấu hiệu nhận biết loại thẻ này là logo ―MasterCard" được in ở mặt trước góc phải của thẻ. Ở Việt Nam thẻ MasterCard là thẻ đồng thương hiệu do các ngân hàng thương mại liên kết với MasterCard như Vietcombank, Viettinbank, OCB,. Thẻ tín dụng American Express hay còn gọi là Amex Card có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ. Đây là thương hiệu dịch vụ thẻ thanh toán nổi tiếng toàn cầu của Mỹ.
So với thẻ MasterCard và VISA thì ở Mỹ, thẻ American Express có độ phổ biến và nổi tiếng không hề kém cạnh. Tuy nhiên, ở Việt Nam thì Amex Card vẫn bị áp đảo hơn rất nhiều bởi sự thịnh hành của VISA và Mastercard. Vì thế, tại Việt Nam, chỉ có Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam (Vietcombank) độc quyền phát hành thẻ này. Điều kiện phát hành thẻ khắt khe cùng chi phí cao chính là nguyên nhân khiến nhiều người không lựa chọn sử dụng.
10 Thẻ tín dụng JCB CB (Japan Credit Bureau) là dòng thẻ thanh toán quốc tế đến từ đất nước Nhật Bản và là một trong các loại thẻ tín dụng quốc tế được sử dụng phổ biến nhất tại châu Á. Hiện các sản phẩm thẻ JCB đã có mặt tại hơn 190 quốc gia trên thế giới cũng như có đến 32 triệu đơn vị chấp nhận thẻ. Ngoài khả năng thanh toán trên toàn thế giới cũng như rút tiền, quẹt thẻ tại các máy có hỗ trợ JCB, thẻ còn có các ưu đãi cho người dùng như miễn phí truy cập Wifi khi du lịch Nhật Bản, giảm giá chuyến bay, miễn phí tham quan một số địa danh tại Nhật Bản,… Nhờ tính linh động mà hiện nay, thẻ JCB được tạo khá đơn giản và dễ dàng. Người dùng có thể thực hiện tạo thẻ trực tiếp tại các chi nhánh, phòng giao dịch của các ngân hàng như Vietcombank, TP Bank,… 2.1 Lý thuyết hành động hợp lý – TRA Lý thuyết hành động hợp lý TRA là một lý thuyết được Fishbein và Ajzen (1975) phát triển từ những nghiên cứu tâm lý về xã hội và các mô hình về sự thuyết phục cũng như các lý thuyết về thái độ.
Thuyết về mối quan hệ giữa thái độ và chuẩn chủ quan của một cá nhân à được sử dụng để dự đoán hành vi của cá nhân đó trong quá trình đưa ra quyết định sử dụng một dịch vụ hay sản phẩm nào đó. Ở thuyết này, để dự đoán được hành vi của một cá nhân ta xem xét đến ý định của cá nhân đó khi tiếp xúc sản phẩm hay dịch vụ đó bởi vì ý định hành vi luôn có trước hành vi cũng như đây là kết quả của niềm tin rằng việc thực hiện hành vi đó sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể. Ta có thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan được dùng để xác định được ý định hành vi của một cá nhân nào đó. Và khi ý định hành vi càng mạnh thì xác suất hành vi xảy ra càng cao từ đó hành vi được cá nhân thực hiện.
Trong lý thuyết hành động hợp lý – TRA cho thấy thái độ của cá nhân đối với hành vi là một yếu tố quan trọng khi xét đến ý định hành vi vì đó là thái độ, cảm nhận đối với hành vi cụ thể.