chương 1, tác giả ngoài giới thiệu sơ lược về những nét chính của đề tài nghiên cứu thì tác giả cũng giải thích cụ thể lý do lựa chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp, câu hỏi nghiên cứu và cuối cùng là bố cục cụ thể của bài khóa luận. Và trong chương kế tiếp hay cụ thể là chương 2, tác giả sẽ trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết và lược khảo các công trình nghiên cứu trước đó, có liên quan đến đề tài nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Quân Đội - Chi nhánh Bình Chánh ở trong ta và ở nước ngoài. Tổng quan về dịch vụ ngân hàng và dịch vụ ngân hàng điện tử 2. Khái niệm và đặc điểm của dịch vụ ngân hàng 2.
Khái niệm dịch vụ ngân hàng Theo WTO (1995) "dịch vụ tài chính được cấu thành, được tạo thành do nhà cung cấp dịch vụ tài chính từ bất cứ một dịch vụ có tính chất tài chính nào đó như các dịch vụ về: bảo hiểm, ngân hàng, môi giới chứng khoán. Từ đó, dịch vụ ngân hàng được đặt trong nội hàm và là một bộ phận cấu thành nên dịch vụ tài chính. Hoạt động ngân hàng gồm các dịch vụ truyền thống mà các ngân hàng cung cấp như: nhận tiền gửi, cho thuê hoặc vay, thanh toán, chuyển tiền và các dịch vụ thanh toán tài chính như là mua bán ngoại hối, chứng khoán các loại, bão lãnh, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, tư vấn và các dịch vụ tài chính bổ trợ khác". Theo thông lệ quốc tế "dịch vụ ngân hàng là những công việc trung gian liên quan đến tiền tệ của các tổ chức với mục đích nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về sinh lời, đầu tư, giữ hộ hay bảo đảm an toàn, đem lại nguồn thu cho tổ chức cung ứng dịch vụ".
Theo David Cox (1997), "các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng thương mại hầu hết đều được gọi là dịch vụ ngân hàng hoặc xem như là cơ sở, điều kiện để dịch vụ ngân hàng được mở rộng và phát triển". Có một ít khái niệm khác thì nghĩ rằng: "dịch vụ ngân hàng lại không thuộc vào trong phạm vi kinh doanh tiền tệ và các hoạt động theo chức năng của một trung gian tài chính như huy động tiền gửi, cho vay,. mà chỉ thuộc vào các hoạt động như chuyển tiền, mua bán hộ, ủy thác, môi giới kinh doanh chúng khoán,. Ngoài ra, một số khái niệm cho rằng tất cả hoạt động ngân hàng phục vụ cho doanh nghiệp và công chúng đều là dịch vụ ngân hàng".
Qua các khái niệm ở phía trên, thì có thể thấy ở Việt Nam, dịch vụ ngân hàng có nhiều cách hiểu khác nhau theo nghĩa rộng hay hẹp. Để thực hành nghiên cứu phát triển các DV ngân hàng, cơ cấu các dịch vụ ngân hàng mới trong hoạt động 9 ngân hàng thì thường mọi người sẽ SD theo khái niệm của nghĩa hẹp. Còn về xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu nền kinh tế của cả một quốc gia thì thường mọi người sẽ sử dụng theo khái niệm nghĩa rộng. Theo Nguyễn Thị Xuân Hoa (2007), "các dịch vụ ngân hàng được chia thành 3 nhóm chính: Một là, dịch vụ ngân hàng truyền thống thì có những dịch vụ cơ bản, quen thuộc đối với khách hàng như: tiền gửi, cho vay, trao đổi các loại ngoại tệ,.
Hai là, dịch vụ ngân hàng hiện đại, gồm những dịch vụ ngân hàng mới với hàm lượng công nghệ cao, mang đến tiện ích mới cho khách hàng như: tư vấn tài chính, đầu tư dự án, dịch vụ cho thuê tài chính,. Trong đó, dịch vụ ngân hàng điện tử (E-banking) là một loại hình dịch vụ đang phát triển mạnh ở thời điểm hiện tại. Ba là, dịch vụ song hành - dịch vụ bổ trợ, gồm những dịch vụ được cung cấp theo hình thức bán chéo sản phẩm. NHTM cũng cung cấp một số dịch vụ khác ngoài những dịch vụ cơ bản để giúp khách hàng đáp ứng được nhu cầu tài chính của họ".
Đặc điểm dịch vụ ngân hàng Theo Hoàng Thị Thanh Hằng và cộng sự (2015), "đặc điểm dịch vụ ngân hàng gồm: tính vô hình, tính không thể tách rời, tính không đồng nhất. Tính vô hình: là loại dịch vụ không có một hình dạng cụ thể, nên không thể nhìn thấy, không chạm được so với sản phẩm hữu hình có thể cân đo, đong đếm và có thể cảm nhận được qua các giác quan. Tính không thể tách rời: thể hiện ở việc không phân chia quá trình cung cấp SP&DV và quá trình sử dụng dịch vụ của khách hàng một cách rạch ròi, rõ ràng mà phải diễn ra cùng một lúc, đồng thời với nhau. Đây cũng là điểm khác biệt của SP&DV của ngân hàng khi so sánh với SP và DV khác không phải của ngân hàng.
Tính không đồng nhất: dịch vụ ngân hàng không có tính đồng nhất, cũng không ổn định do sự phát triển của công nghệ ngày càng hiện đại, đội ngũ nhân viên, không gian, thời gian, nhu cầu của con người,… Ví dụ như ngày xưa khách hàng cần phải tự giác đi đến tận quầy giao dịch để tiến hành giao dịch, còn ngày nay 10 với sự phát triển vượt trội của công nghệ thông tin thì khách hàng có thể giao dịch qua bằng máy ATM, dịch vụ từ ngân hàng điện tử, ví điện tử…". Dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho khách hàng cá nhân 2. Khái niệm dịch vụ ngân hàng điện tử "Dịch vụ ngân hàng điện tử là một loạt các kênh điện tử để thực hiện các giao dịch ngân hàng thông qua Internet, điện thoại, TV, điện thoại di động và máy tính" theo Lustsik (2004). Theo Alagheband (2006) "dịch vụ ngân hàng điện tử là bao gồm việc tự động cung cấp các SP và DV của ngân hàng mới và truyền thông bằng hình thức trực tiếp tới khách hàng thông các kênh truyền thông điện tử tương tác.
Ngân hàng điện tử là các hệ thống cho phép khách hàng cá nhân hoặc doanh nghiệp của tổ chức tài chính truy cập vào tài khoản của họ, để họ thực hiện những giao dịch kinh doanh hoặc lấy thông tin về sản phẩm và dịch vụ tài chính thông qua mạng công cộng hoặc tư nhân, bao gồm cả mạng Internet". Theo Thulani, Tofara, Langton (2009) "ngân hàng điện tử là dịch vụ phục vụ cho phép khách hàng của ngân hàng truy cập vào tài khoản của họ để tiếp nhận thông tin mới nhất về ngân hàng, cũng như sản phẩm và dịch vụ, thực hiện mọi giao dịch tài chính bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu thông qua việc sử dụng trang web của ngân hàng". Theo Mwiya và cộng sự (2017), "hoạt động của ngân hàng truyền thống, khách hàng thông qua sự tiếp cận trực tiếp với nhân viên ngân hàng để tiếp cận sản phẩm và dịch vụ ngân hàng. Với hoạt động này của ngân hàng truyền thống đã tạo nên sự không phù hợp giữa ngân hàng và nhu cầu của khách hàng, vì ngân hàng chỉ có thể thực hiện các dịch vụ ngân hàng mà khách hàng cần trong thời gian làm việc và tại địa điểm cụ thể của ngân hàng.
Ngày nay, với sự phát triển của công nghệ, các ngân hàng đã có thể cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho khách hàng tự giao dịch mà không cần phải đến ngân hàng, ở bất thời gian và không gian nào thông qua các phương thức như máy rút tiền tự động (ATM), mạng internet, mạng di động, wifi,…" Vậy những sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng đã được cung cấp bằng sự 11 sáng tạo của các kênh truyền thông điện tử được xem như là dịch vụ ngân hàng điện tử. Theo Khan (2017), "dịch vụ NHĐT được định nghĩa là một loại dịch vụ ngân hàng từ xa được cung cấp bởi ngân hàng được ủy quyền hoặc đại diện của họ thông qua các thiết bị vận chuyển được vận hành dưới sự quản lý, kiểm tra và được giám sát trực tiếp của ngân hàng". Hay nói, dịch vụ NHĐT là thuật ngữ đề cập đến quá trình mà khách hàng có thể thực hiện các giao dịch ngân hàng điện tử mà không cần đến các chi nhánh ngân hàng. Ngân hàng điện tử cũng bao gồm các hệ thống cho phép khách hàng cá nhân hoặc doanh nghiệp truy cập tài khoản và giao dịch kinh doanh, lấy thông tin của các SP và DV tài chính thông mạng riêng tư, công cộng hay Internet.
Khái niệm dịch vụ NHĐT dành cho KH cá nhân Dịch vụ ngân hàng điện tử đối với đối tượng khách hàng cá nhân là loại dịch vụ thuộc vào dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Theo WTO "việc cung cấp các dịch vụ hàng hóa cho mọi người trong nền kinh tế ngân hàng được gọi là dịch vụ nhiệm vụ ngân hàng bán lẻ. Khách hàng chính của hoạt động này là khách hàng cá nhân. Thanh toán bằng thẻ, thanh toán thông qua các dịch vụ Ngân hàng điện tử, thanh toán quốc tế, huy động vốn và các dịch vụ Ngân hàng hiện đại khác được cung cấp.
Các NHTM dựa trên hoạt động của ngân hàng bán lẻ". Theo Nguyễn Thị Minh Hiền (2007) "với đối tượng khách hàng cá nhân thì dịch vụ ngân hàng điện tử là một mô hình mà ngân hàng cho phép khách hàng được truy cập từ xa để thực hiện các giao dịch tài chính thông qua các kênh điện tử như Internet, mạng không dây, điện thoại, ATM, máy POS,. Theo Keivani và cộng sự (2012), "ngân hàng cung cấp dịch vụ cho khách hàng dựa vào nền tảng viễn thông và công nghệ hiện đại. Khách hàng vẫn có thể thực hiện giao dịch theo nhu cầu cá nhân mà không cần phải tiếp xúc trực tiếp với nhân viên ngân hàng hay ngân hàng trung gian".
Theo Ngân hàng Nhà nước (2013), "dịch vụ ngân hàng điện tử dành cho KHCN bao gồm: máy rút tiền tự động (ATM); hệ thống thanh toán điện tử tại các 12 điểm bán hàng (POS); dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (Telephone Banking); trung tâm dịch vụ khách hàng (Call Center); dịch vụn gân hàng qua mạng Internet (Internet Banking); dịch vụ ngân hàng tại nhà (Home Banking); dịch vụ ngân hàng qua mạng viễn thông không dây (Mobile Banking); ví điện tử (eWallet); tiền điện tử (Digital Cash)". Đặc điểm dịch vụ NHĐT dành cho KH cá nhân Qua khái niệm, có thể thấy được một số đặc điểm mang đến những lợi ích cho KH cá nhân từ việc sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử như: tính thuận tiện và nhanh chóng; tính an toàn bảo mật; tính hữu hình.