Chương I: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách 1 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Khái niệ m dịch vụ Nền kinh tế không chỉ đơn thuần với các sản phẩm vật chất cụ thể mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Thực tế hiện nay, có nhiều tranh luận và quan điểm khác nhau về khái niệm dịch vụ.
Theo Zeithaml va Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Kotler và Armstrong (2004) thì “Một dich vu là một loạt các hoạt động hay lợi ích mà một bên cung cấp cho bên kia, trong đó dịch vụ có tính vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao sở hữu nào cả”. Dịch vụ thuần túy có các đặc trưng phân biệt với hàng hóa thuần túy, dẫn đến việc cung cấp dịch vụ khác nhiều so với cung cấp hàng hóa như: tính vô hình, tính không tách rời giữa tiêu dùng và dịch vụ, tính không đồng đều vẻ chất lượng, tính không dự trữ được và tính không chuyền đôi sở hữu. Theo Edvardsson (2005), dịch vụ được hiểu là quy trình được sản xuất và tiêu thụ với sự tham gia của khách hàng trong việc sản xuất và tiêu thụ.
Tiếp cận theo quan điểm khác, Hopkins va công sự (2005) cho rằng dich vụ là những kinh nghiệm khách hàng nhận được trong tương tác mua - bán ‘Tom lai, có nhiều khái niệm khác nhau về dịch vụ, mỗi khái niệm đều có ưu điểm cũng như hạn chế riêng. Trong nghiên cứu này, dịch vụ được xem là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mỗi quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyển sở hữu nhằm thỏa mãn kịp thời các nhu 12 cầu sản xuất và đời sống sinh hoạt của con người (Kotler, 2004). của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá phạm vi của sản phẩm vật chất. Định nghĩa này xem xét trên góc độ nhìn nhận sản phẩm như là một tổng thể về mục tiêu hay quá trình thỏa mãn các nhu cầu của người tiêu thụ.
Khái niệm dịch vụ viễn thông: “Dịch vụ viễn thông di động là một loại hình dịch vụ nhằm cung cấp khả. năng trao đổi thông tin ngay tức thời cho người sử dụng ở mọi lúc mọi nơi và. không thay đổi nội dung của thông tin”. Đây là một lĩnh vực đặc biệt hỗ trợ cho tất cả những ngành sản xuất, dịch vụ khác và đời sống xã hội.
Vì vậy, dịch vụ viễn thông là một lĩnh vực kinh tế vô cùng quan trọng và cần thiết “Theo pháp lệnh Bưu chính viễn thông, Điều 37, mục I quy định: Dịch vụ viễn thông bao gồm: ~ Dịch vụ cơ bản là dịch vụ truyền đưa tức thời dịch vụ viễn thông qua mạng Viễn thông hoặc Internet mà không thay đổi loại hình hoặc nội dung. thông tin hoặc cung cấp khả năng lưu trữ, khôi phục thông tỉn trong đó, trên cơ sở sử dụng mạng viễn thông hoặc Internet ~ Dịch vụ kết nối Internet là dịch vụ cung cắp cho cơ quan, tổ chức DN cung cấp dịch vụ Internet khả năng kết nối với nhau và với Internet ~ Dịch vụ truy cập Internet la dich vu cung cấp cho người sử dụng khả năng truy cập Internet ~ Dịch vụ ứng dụng Internet trong Bưu chính viễn thông cho người sử dụng. ~ Dịch vụ Internet trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác phải tuân theo. các quy định Pháp luật về Bưu chính, Viễn thông và các quy định khác của Pháp luật có liên quan Như vậy, Dịch vụ viễn thông di động là một loại hình dịch vụ viễn thông.
có tính ưu có khả năng sử dụng mọi lúc mọi nơi, hội tụ được cả chức 13 năng cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản là truyền tin, các dịch vụ giá trị gia tăng khác và truy cập Internet. Việc sử dụng dịch vụ đòi hỏi phải được hòa 'vào mạng cung cấp của các nhà cung cấp dịch vụ này. Đặc điểm của dịch vụ ‘Theo quan diém quan tri marketing (Kotler va va Armstrong, 2004), dich vụ bao gồm những đặc điểm chính sau đây: () Tính không mắt đi và không chuyển quyên sở hữu Kỹ năng dịch vụ không mắt di sau khi đã cung ứng. Người ca sĩ không hề mắt đi giọng hát sau một buổi trình diễn thành công.
Bác sĩ khong hé mat đi khả năng phẫu thuật của mình sau một ca phẫu thuật thành công. Sự thành công của ca sĩ trong buổi trình diễn, sự thành công của bác sĩ trong phẫu thuật sẽ là điều kiện tồn tại và hướng tới sự hoàn thiện hơn trong sự lặp lại hoạt động của mình. (ji) Tinh v6 hink hay phi vat chat Dịch vụ chỉ có thể nhận thức được bằng tư duy hay giác quan chứ ta không thể “sờ mó” được, dịch vụ cũng không thể đo lường được bằng các phương pháp đo lường thông thường về thể tích, trọng lượng. Khách du lịch không biết trước tác động của những dịch vụ được cung cấp trước khi chúng được cung ứng và tiếp nhận, người sử dụng dịch vụ viễn thông không nhìn thấy được sản phẩm mà họ sử dụng.
Như vậy, người tiêu dùng dịch vụ buộc. phải tin vào người cung cấp dịch vụ. Để giảm bớt sự không chắc chắn khi mua dịch vụ, người tiêu dùng phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ CLDV: cung ứng đó như thương hiệu, điểm bán, trang thiết bị, biểu tượng, giá cả. Đối với người cung cấp dịch vụ, để củng cố niềm tin cho khách hàng, có thể thực hiện các biện pháp để "hữu hình hóa” các dịch vụ mà mình cung cắp, có thể không chỉ mô tả dịch vụ của mình mà còn làm khách hàng chú ý tới lợi ích liên quan đến dịch vụ đó.
14 (iii) Tính không thể phân chia Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp, quá trình sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra đồng thời. Khác với sản xuất vụ không thể làm sẵn để lưu kho sau đó mới đem tiêu thụ. Do vậy, chỉ khi khách hàng có nhu cầu thì quá trình sản xuất mới được thực hiện. (iv) Tinh không ôn định và khó xác định được chất lượng CLDV thường dao động trong một biên độ rắt rộng, tùy thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch vụ (ví dụ, người cung ứng, thời gian, địa điểm cung ing phục vụ) () Tỉnh không lưu giữ được “Tính không lưu giữ được của dịch vụ không phải là vấn đề quá lớn nếu như cầu cầu là ôn định và có thể dự đoán truớc.
Nhưng thực tiễn nhu cầu dịch vụ thường không ôn định, luôn dao động thì công ty cung ứng dịch vụ sẽ gặp những vấn đề trở ngại về vấn đề sử dụng nhân lực và cơ sở vật chất kỹ thuật. Ngoài ra, theo Lưu Văn Nghiêm (2008), đối với dịch vụ viễn thông được. bổ sung thêm hai đặc điểm như sau: đi) Hàm lượng trí thức trong dich vụ chiếm tý lệ lớn Người ta không cần các nguyên vật liệu đầu vào hữu hình như dây chuyển sản xuất hay nhà máy để sản xuất ra dịch vụ, mà giữ vai trò quan trọng nhất trong hoạt động dịch vụ là yếu tố con người, thê hiện qua quá trình sử dụng chat xám và các kỹ năng chuyên biệt với sự hỗ trợ của các dụng cụ, trang thiết bị chứ không phải ở sức mạnh cơ bắp hay các hoạt động gắn liền với các dây chuyền sản xuất đồ sộ. (vii) Sự nhạy cảm của dịch vụ đối với tốc độ thay đổi nhanh chóng của công nghệ Đây là đặc điểm nổi bật và quan trọng nhất của dịch vụ, thể hiện ở CLDV không ngừng được tinh vi hoá, chuyên nghiệp hóa và quan trọng hơn 15 là sự xuất hiện liên tục những dịch vụ mới.
Thể hiện rõ nét ở dịch vụ điện thoại di động, từ thế hệ thứ nhất theo kỹ thuật anolog sang đầu thập niên 90 đã chuyển sang thế hệ thứ hai là kỹ thuật số, hiện nay trong những năm đầu của thế kỷ 21 người ta đang nói đến thế hệ điện thoại di động thứ ba có. thể truy cập internet hết sức dễ dàng, mọi lúc mọi nơi. LY THUYET VE LONG TRUNG THANH 1. Khái niệm lòng trung thành Một vấn đề quan trọng đối với sự thành công của một DN là khả năng duy trì khách hàng hiện tại và làm gia tăng lòng trung thành của họ với thương hiệu.
Engel và Blackwell (1982) đã định nghĩa lòng trung thành của khách hàng là thái độ và hành vi đáp ứng tốt hướng tới một hoặc một vài nhãn hiệu đối với một loại sản phẩm trong một thời kỳ bởi một khách hàng. Lòng trung thành của KH cũng được định nghĩa như là sự cam kết sâu sắc về việc mua lại hoặc ghé thăm lại sản phẩm/dịch vụ ưa thích trong tương. lai, do đó gây ra sự lặp lại cùng nhãn hiệu hoặc đặt hàng lại, dù những ảnh hưởng hoàn cảnh và nỗ lực marketing có khả năng dẫn đến việc chuyển đổi hanh vi (Oliver, 1999) Nhu dinh nghia trên thì lòng trung thành gồm cả yếu tố thái đô và hành vi. KH có hành vi trung thành với một DN thể hiện thái độ ưa thích nhiều hon đối với DN đó trong sự so sánh với đối thủ cạnh tranh.
Reichheld và Sasser (1990) và Reichheld (1996) đã nghiên cứu giá trị lâu dài của KH và giá trị của việc xây dựng lòng trung thành KH bằng cách lắng nghe than phiền của KH, lường trước các hành vi thay đôi và tìm hiểu nguyên nhân vì sao KH chuyển. sang đối thủ cạnh tranh. Những DN có được lòng trung thành của KH sẽ có cơ hội gia tăng thị phần và đạt được lợi nhuận cao hơn, phát tán thông tin nhanh thông qua hình thức truyền miệng và gia tăng lợi thế cạnh tranh so với đối thủ. Nếu thất bại trong việc tính toán lòng trung thành có thể dẫn đến lòng.
16 trung thành giả mạo (Diek và Basu, 1994). Vì vậy để đạt được lòng trung thành “đúng”, các DN nên đồng thời tập trung vào cả hai loại là hành vỉ và thái độ trung thành (Kumar và Shah, 2004). Phân loại khách hàng theo lòng trung thành. Dựa theo tiêu chí lòng trung thành, có thể chia KH thành ba loại: không trung thành, trung thành và cuồng tín (MeKenna, 2007).
Khách hàng cuồng. tín là những KH rất nhiệt tình, ủng hộ cuồng nhiệt. Khách hàng này tạo ra một khoảng lợi nhuận rất lớn cho DN.