chương 1 Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về đề tài đang nghiên cứu thông qua lý do dẫn dắt để hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu, và phương pháp nghiên cứu tổng quát. Những nội dung này sẽ tác giả có cái nhìn tổng quát về nội dung, quá trình hình thành đề tài, để từ đó tạo cơ sở cho việc tìm hiểu sâu về các cở sở lý thuyết liên quan trong chương tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương một giới thiệu khái quát về nghiên cứu. Chương hai tác giả trình bày các khái niệm và lý thuyết có liên quan đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân.
Các lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đề xuất mô hình nghiên cứu dự kiến tại Ngân hàng Bưu điện Liên Việt Cần Thơ. Những vấn đề chung về tiền gửi tại NHTM 2. Tiền gửi tiết kiệm Nopirin (1996) định nghĩa rằng tiền gửi tiết kiệm là một phần của doanh thu năm nay không dành hoặc sử dụng cho tiêu dùng. Tiết kiệm là tiền gửi của bên thứ ba rút có thể được thực hiện bất cứ lúc nào và chỉ có thể được thực theo các điều kiện nhất định, bao gồm các hình thức tiết kiệm rút tiền, sổ tiết kiệm và thẻ nhận dạng.
Suyuan và Khurshid (2015) cho biết, tiền gửi tiết kiệm chỉ có thể được thực hiện theo các điều kiện thỏa thuận nhất định không thể rút ra bằng séc hay công cụ tương đương. Theo UPN (2009): Lý do hay động cơ tiết kiệm một người nói chung: - Người tiết kiệm để chuẩn bị cho tuổi già và sẽ sử dụng nó một lần nữa, ngoài ra cũng tích lũy để cho con cháu sau này; - Người dân tiết kiệm vì có doanh thu vượt quá sau khi được sử dụng cho hàng hóa, dịch vụ và chi phí; - Động cơ đầu cơ với một đảm bảo để có được những lợi ích do sự thay đổi về lãi suất trong tương lai. Theo Lee (2011) cho rằng các điều kiện chung để trở thành khách hàng của các khoản tiết kiệm: - Tiền gửi tiết kiệm chỉ dành cho người tiết kiệm tiền; - Ứng cử viên bảo vệ điền và ký tên vào mẫu đơn để trở thành người tiết kiệm trong ngân hàng; - Nộp bằng chứng về một bản sao hình ảnh của bằng chứng hợp lệ của bản sắc (CMND / Giấy phép lái xe /hộ chiếu); - Khách hàng phải điền chữ ký mẫu thẻ; - Như bằng chứng về tiết kiệm, tổ chức tiết kiệm ngân hàng sẽ công bố tên người gửi tiết kiệm túi sách; - Người gửi tiền tiềm năng nên các khoản tiền gửi đầu tiên trong số tiền được xác định bởi. 6 Theo NHNNVN (2018) định nghĩa tại Điều 5 Thông tư quy định về tiền gửi tiết kiệm số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018: Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng.
Các mức lãi suất tương ứng với từng kỳ hạn gửi được ngân hàng công bố sẵn. Các kỳ hạn ngắn thường là 1, 2, 3, 4, 5, 6 tháng… hoặc trên một năm (18, 24 tháng. Hình thức phổ biến và cổ điển nhất của tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi có sổ. Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho người gửi tiền một cuốn sổ dùng để ghi nhận các khoản tiền gửi vào và rút ra.
Quyển sổ này đồng thời có giá trị như một chứng thư xác nhận về khoản tiền đã gửi. Quyền sổ này được gọi là thẻ tiết kiệm. Thẻ tiết kiệm hoặc sổ tiết kiệm (sau đây gọi chung là Thẻ tiết kiệm) là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm của người gửi tiền tại tổ chức tín dụng, được áp dụng đối với trường hợp nhận tiền gửi tiết kiệm tại địa điểm giao dịch hợp pháp thuộc mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng. Nội dung Thẻ tiết kiệm: - Tên tổ chức tín dụng, con dấu; Họ tên, chữ ký của giao dịch viên và của người đại diện hợp pháp của tổ chức tín dụng; - Họ tên, số và ngày cấp Giấy tờ xác minh thông tin của người gửi tiền hoặc của tất cả người gửi tiền (đối với tiền gửi tiết kiệm chung) và thông tin của người đại diện theo pháp luật của người gửi tiền trong trường hợp gửi tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật; - Số Thẻ tiết kiệm; số tiền; đồng tiền; ngày gửi tiền; ngày đến hạn (đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn); thời hạn gửi tiền; lãi suất; phương thức trả lãi; - Biện pháp để người gửi tiền, tra cứu khoản tiền gửi tiết kiệm; - Xử lý đối với trường hợp nhàu nát, rách, mất Thẻ tiết kiệm; - Ngoài các nội dung quy định tại điểm a khoản này, Thẻ tiết kiệm có thể có các nội dung khác theo quy định của tổ chức tín dụng.
Phân loại tiền gửi 2. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi tiết kiệm Đây là cách thức huy động vốn chủ yếu của các NHTM hiện nay và đang ngày càng được đa dạng hóa các loại tiền gửi tiết kiệm này. Hiện nay chủ yếu gồm các loại tiền gửi sau: Tiết kiệm không kỳ hạn Là tiền gửi khách hàng có thể gửi và rút ra bất cứ lúc nào mà không cần báo trước cho ngân hàng. Tiền gửi này có đặc điểm sau: 7 Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai.
Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức tiết kiệm này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn mục tiêu sinh lợi. Điểm khác biệt giữa tài khoản tiền gửi cá nhân với tài khoản tiền gửi tiết kiệm là khi rút tiền khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm và chỉ được thực hiện các giao dịch gửi và rút tiền chứ không thể thực hiện các giao dịch thanh toán như tài khoản tiền gửi thanh toán. Mặc dù, số dư trên tài khoản tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn thường không lớn (do lãi suất thấp) nhưng nếu ngân hàng thu hút được số lượng khách hàng khá lớn thì tổng khối lượng vốn huy động qua hình thức tiền gửi này có thể trở nên lớn đáng kể. Tiết kiệm có kỳ hạn Là loại tiền gửi mà trong đó có sự cam kết gửi tiền giữa khách hàng và ngân hàng trong một kỳ hạn nhất định.
Đặc điểm tiền gửi này như sau: Đối với loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, người gửi có một số tiền nhàn rỗi trong thời gian dài, họ thường gửi theo hình thức này để được lãi suất cao. Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với loại tiền gửi này song có thể thế chấp để vay vốn nếu được ngân hàng cho phép. Nếu cần chi tiêu, người gửi phải đến ngân hàng để rút tiền. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thường được hưởng lãi suất cố định.
Tuy nhiên, giữa các loại tiền gửi có kỳ hạn khác nhau lãi suất được trả sẽ khác nhau. Tiền gửi có kỳ hạn với thời gian càng lâu, lãi suất sẽ càng cao. Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý.
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn khách hàng có thể rút ra bất kỳ lúc nào. Đối với tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn khách hàng chỉ được rút tiền gửi theo đúng kỳ hạn đã cam kết, không được phép rút tiền trước hạn. Tuy nhiên, để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền ngân hàng cho phép khách hàng được rút tiền gửi trước hạn nếu có nhu cầu, nhưng khách hàng chỉ được hưởng lãi suất không kỳ hạn, hoặc lãi suất kỳ hạn theo thời hạn gửi thực tế. Mục tiêu quan trọng của khách hàng khi chọn lựa hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ.
Do đó, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này. Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn cao hơn lãi suất trả cho loại tiền gửi không kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. 8 - Căn cứ vào thời hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn linh hoạt từ 1-13 tháng hoặc lâu hơn.
- Căn cứ vào phương thức trả lãi có thể chia thành: + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ; + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ; + Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ (tháng hoặc quý). Các loại tiết kiệm khác Ngoài hai loại tiền gửi tiết kiệm chính là tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn hầu hết các NHTM đều thiết kế những loại tiền gửi tiết kiệm khác như tiết kiệm tiện ích, tiết kiệm có thưởng, tiết kiệm an khang với nét đặc trưng riêng nhằm làm cho sản phẩm của mình luôn được đổi mới theo nhu cầu khách hàng và tạo ra rào cản dị biệt để chống lại sự bắt chước của các đối thủ cạnh tranh. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi thanh toán Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi mang tính đặc thù riêng có của NHTM, là điểm khác biệt giữa NHTM và các TCTD phi ngân hàng. Chính vì đặc thù này, NHTM thường được gọi là tổ chức nhận tiền gửi.
Trong khi các TCTD phi ngân hàng được gọi là tổ chức không nhận tiền gửi. Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch) Là loại tiền gửi mà người gửi được sử dụng một cách chủ động và linh hoạt không bị ràng buộc về mặt thời gian, là hình thức huy động vốn của NHTM bằng cách mở cho khách hàng tài khoản gọi là tài khoản tiền gửi thanh toán. Tài khoản này mở cho các đối tượng khách hàng, cá nhân hoặc tổ chức, có nhu cầu thực hiện thanh toán qua ngân hàng để thực hiện các khoản chi trả về mua bán hàng hoá, dịch vụ, nhu cầu nhận chuyển tiền vào tài khoản, như nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển tiền từ nước ngoài hoặc từ cá nhân khác trong nước.