Chương 1, đề tài đã trình bày tổng quan nghiên cứu như lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu trước đây trong và ngoài nước, ý nghĩa thực tiễn những đóng góp của đề tài. Đây được xem là nền tảng để thực hiện các chương tiếp theo của đề tài nghiên cứu. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về hoạt động huy động của Ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm huy động vốn Là những giá trị tiền tệ do Ngân hàng huy động được từ các tổ chức từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện tín dụng, thanh toán, cá nghiệp kinh doanh khác…. Vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng thương mại, nó vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Các hoạt động cơ bản của Ngân hàng thương mại Đây là hình thức huy động vốn truyền thống của Ngân hàng. Với loại tiền gửi này, người gửi được Ngân hàng giao cho một sổ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi.
Bao gồm các hoạt động như sau: - Hoạt động huy động vốn Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội dể hoạt động là lẽ sống còn quan trọng của các Ngân hàng thương mại. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để Ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác nhau như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ Ngân hàng cho khách hàng. Ngân hàng thường huy động vốn từ: Nguồn vốn tự có: Đây là nguồn hình thành ban đầu từ mỗi Ngân hàng, tùy theo loại hình Ngân hàng mà nguồn hình thành khác nhau. Trong quá trình hoạt động, Ngân hàng sẽ gia tăng vốn theo nhiều phương thức khác nhau tùy thuộc vào điều kiện cụ thể như: nguồn từ lợi nhuận gữi lại, nguồn bổ sung từ phát hành cổ phiếu… Nguồn vốn từ huy động tiền gửi: Khi Ngân hàng bắt đầu hoạt động thì nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán cho khách hàng cũng nhời đó Ngân hàng huy động để gửi của các doanh nghiệ, các tổ chức, của 8 các dân cư.
Một trong những nguồn quan trọng là các khoản tiền gửi thanh toán và tiền tiết kiệm của khách hàng. Trong cạnh tranh để tìm và giành được các khoản tiền gửi, các Ngân hàng trả lãi tiền gửi như phần thưởng cho khách hàng. - Hoạt động sử dụng vốn Hoạt động vốn chủ yếu của Ngân hàng của Ngân hàng là tìm kiếm các khoàn vốn để sử dụng nhằm thu lợi nhuận, việc sử dụng chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau của Ngân hàng trong đó chủ yếu là dùng cho hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tư. - Hoạt động tín dụng Đây là hoạt động quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản, phản ánh hoạt động đặc trưng của Ngân hàng là cho vay và hoạt động này cũng mang lại nguồn thu nhập cho Ngân hàng.
- Hoạt động đầu tư Các Ngân hàng cũng đầu tư nhằm tiềm kiếm lợi nhuận như góp vốn vào doanh nghiệp, mua bán chứng khoán trên thị trường hay cho vay trên thị trường liên Ngân hàng để tận dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi. - Hoạt động dịch vụ Ngoài hai hoạt động chính là huy động vốn và đầu tư vốn thì Ngân hàng thương mại còn là tổ chức cung cấp nhiều dịch vụ: dịch vụ thanh toán, dịch vụ bảo lãnh, dich vụ mua bán ngoại tệ, dịch vụ ngân quỹ… 2. Các hình thức huy động vốn chủ yếu của Ngân hàng Thương mại - Căn cứ theo thời hạn Tiết kiệm không kỳ hạn: là sản phẩm tiết kiệm được thiết kế dành cho khách hàng có tiền nhàn rỗi muốn gửi Ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền gửi trong tương lai. Đối với khách hàng khi chọn hình thức gửi tiết kiệm này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn mục tiêu sinh lợi.
9 Tiết kiệm có kỳ hạn: khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được thiết kế dành cho các khách hàng có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lợi và có kế hoạch sử dụng tiền trong tương lai. Đối tượng khách hàng chủ yếu của loại tiền gửi này là các cá nhân có thu nhập ổn định và thường xuyên, mục tiêu của họ khi lựa chọn hình thức tiền gửi này là lợi tức có được theo định kỳ. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có thể phân thành nhiều loại: Căn cứ theo kỳ hạn có thể chia thành tiền gửi kỳ hạn 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,10, 11, 12 và 13 tháng hoặc lâu hơn lên đến 36 tháng; Căn cứ theo phương thức trả lãi có thể chia thành: tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi đầu kỳ, tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi cuối kỳ, tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi theo định kỳ (hàng tháng hoặc hàng quý). - Căn cứ theo loại tiền Tiết kiệm Việt Nam đồng.
Tiết kiệm Ngoại tệ. - Căn cứ theo đối tượng Tiền gửi của cá nhân Tiền gửi của doanh nghiệp Ngoài ra hình thức tiền gửi tiết kiệm còn phân loại theo các tiêu chí khác do tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm quy định 2. Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Tại khoản 9, điều 20, luật tín dụng 2010 định nghĩa tiền gửi: “Tiền gửi là số tiền của tổ chức, cá nhân gửi tại tổ chức tín dụng hoặc các tổ khác có hoạt động Ngân hàng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không hưỡng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi”.
Như vậy tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của khách hàng được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm. Theo khoản 13, điều 4, luật tổ chức tín dụng 2010 thì huy động vốn tiền gửi còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi “Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền gửi của các tồ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, 10 tiền gửi tiết kiệm, phát hàng chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận”. Như vậy, các khái niệm về tiền gửi theo quy định pháp lý nêu trên có mối quan hệ mật thiết với tài khoản của khách hàng tại Ngân hàng: a. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm phải được thanh toán khi có sự yêu cầu của khách hàng, ngay cả khi khoản tiền gửi này chưa đến kỳ hạn thanh toán.
Giao dịch nhận tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng thương mại được hiểu là cam kết song phương giữa Ngân hàng với khách hàng gửi tiền, là hành vi Ngân hàng thương mại vay tiền từ dân cư, các tổ chức với cam kết hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi. Xét về kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có đặc điểm là có thể lĩnh đủ số tiền gốc và lãi theo cam kết trên hợp đồng tiền gửi tiết kiệm (thường được gọi là sổ tiết kiệm) sau một khoảng thời gian nhất định từ một tuần, một tháng, vài tháng đến một vài năm, tùy vào kỳ hạn gửi được khách hàng lựa chọn theo nhu cầu. Tuy nhiên, người gửi tiền vẫn có thể rút tiền bất cứ lúc nào, và nếu rút tiền gửi tiết kiệm trước hạn, khách hàng chỉ được tính lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cho khoảng thời gian thực gửi. Tiền gửi tiết kiệm có tính tái tục.
Nếu đến ngày đáo hạn của khoản tiền gửi mà khách hàng không đến rút gốc thì số tiền này sẽ tự động cộng lãi và quay vòng sang kỳ hạn mới với mức lãi suất áp dụng cho kỳ hạn tại thời điểm hiện tại. So với các hình thức huy động gửi tiền khác như tiền gửi thanh toán thì tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn huy động có tính ổn định cao và chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động tiền gửi của các Ngân hàng. Tiền gửi, trong đó có tiền gửi tiết kiệm, là khoản mục duy nhất trên Bảng cân đối kế toán giúp phân biệt Ngân hàng với các loại hình doanh nghiệp khác. Tiền gửi tiết kiệm, đặc biệt là các khoản tiền gửi tiết kiệm dài hạn – với đặc tính ổn định, lâu dài – là cơ sở chính cho các khoản cho vay của các Ngân hàng thương mại, và do đó nó là nguồn gốc sâu xa của lợi nhuận và sự phát triển của Ngân hàng, đặc biệt khi nguồn lợi nhuận của các Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động cho vay.
11 Lãi suất tiền gửi tiết kiệm được khống chế bởi mức lãi suất trần hoặc dựa trên lãi suất thỏa thuận theo quy định do Ngân hàng nhà nước ban hành vào từng thời kỳ cụ thể. Dưới sự điều hành của NHNN, các Ngân hàng tùy vào mục tiêu phát triển kinh doanh của mình để đưa ra mức lãi suất thích hợp, cạnh tranh thu hút khách hàng gửi tiết kiệm. Tiền lãi tiết kiệm thường được trả cuối kỳ (khi đáo hạn sổ tiết kiệm) hoặc đầu kỳ gửi. Tuy nhiên, nhiều Ngân hàng có loại hình tiết kiệm trả lãi hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm đối với các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm dài hạn, tạo sự linh hoạt phù hợp với nhu cầu đa dạng của khách hàng.
Giá trị giao dịch tiền gửi tiết kiệm là tổng số tiền của các khoản tiền gửi tiết kiệm trong thời gian một khoảng thời gian nhất định tại một Ngân hàng nói chung hay của toàn bộ hệ thống Ngân hàng. Giá trị giao dịch lớn cho thấy lượng tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế càng nhiều, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn nên khách hàng chuyển sang đầu tư vào kênh tiền gửi để có mức sinh lợi an toàn. Giá trị giao dịch càng nhỏ cho thấy nền kinh tế đang phát triển, có nhiều lựa chọn đầu tư cho khách hàng b. Các hình thức huy động tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có hai dạng cơ bản: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn.