đặt vấn đề và nêu lý do chọn đề tài, để từ đó trình bày các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu này. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu 7 Tại chương 2, nghiên cứu sẽ trình bày tổng quan về cơ sở lý thuyết liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Đồng thời tại chương này, nghiên cứu sẽ trình bày tình hình các nghiên cứu trước đây có liên quan đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Tại chương 3, tác giả trình bày mô hình và giả thuyết nghiên cứu đề xuất.
Đồng thời, thiết kế quy trình nghiên cứu, mô tả cách thiết lập các thang đo cho các quan sát đại diện cho các biến, các chỉ số được sử dụng để đánh giá kết quả nghiên cứu và mô hình hồi quy. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Tại chương 4, tác giả trình bày kết quả tính toán từ số liệu được thu thập điều tra khảo sát thông qua các chỉ tiêu thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA, mô hình hồi quy và các khuyết tật mô hình hồi quy. Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách Tại chương 5, tác giả sẽ căn cứ vào các kết quả của nghiên cứu trước đây và kết quả nghiên cứu thực nghiệm của mình để nêu ra kết luận của các nhân tố ảnh hưởng. Đồng thời dựa vào kết quả đó để tiến hành nêu ra các gợi ý chính sách cho mỗi nhân tố ảnh hưởng tương ứng nhằm nâng cao quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Techcombank Hồ Chí Minh.
8 CHƯƠNG 2: CỞ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG. VỐN VÀ TIỀN.GỬI TIẾT KIỆM CỦA NHTM 2. Sơ lược về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại Theo Phan Thị Thu Hà (2013), “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức chuyên nghiệp trong lĩnh vực tạo lập và cung cấp các dịch vụ tài chính, tiền tệ cho công chúng cũng như thực hiện nhiều vai trò khác trong nền kinh tế.
Thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, khả năng cung cấp các dịch vụ cho công chúng theo giá cạnh tranh trên thị trường”. Hoạt động huy động vốn tại ngân hàng là một hoạt động mang tính chất tiền đề, nhằm tạo lập nguồn vốn cho các hoạt động cho ngân hàng. Các NHTM có thể thực hiện các hoạt động huy động vốn từ các nguồn sau: Nguồn vốn chủ sở hữu: là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động của các ngân hàng. Đây là nguồn tiền thuộc sở hữu hợp pháp của chủ ngân hàng trong một thời gian dài, chủ yếu bao gồm các khoản vốn ngân hàng được cấp, hoặc được đóng góp bởi những người chủ ngân hàng khi mới thành lập, cộng với những khoản được trích lập, giữ lại từ lợi nhuận hoạt động, các quỹ của ngân hàng hình thành trong quá trình kinh doanh và các tài sản khác theo quy định của Nhà nước.
Nguồn vốn này tuy chiếm tỷ trọng không lớn, thông thường khoảng 10% tổng số vốn, nhưng có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động của ngân hàng, là điều kiện cho phép các ngân hàng có thể mở rộng mạng lưới kinh doanh, quy mô huy động, mua sắn tài sản cố định, góp vốn liên doanh, cấp vốn cho các công ty con và các hoạt động kinh doanh khác, đồng thời nó cũng là thước đo năng lực tài chính của mỗi ngân hàng và khả năng phòng vệ rủi ro trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn tiền gửi: Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất đối với từng NHTM. Nghiệp vụ đầu tiên của mỗi ngân hàng khi bắt đầu hoạt động chính là mở 9 các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng. Thông qua đó, ngân hàng huy động được tiền từ các khách hàng của mình.
Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn tiền của mỗi ngân hàng. Để gia tăng lượng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh, cũng như để nâng cao chất lượng của lượng tiền gửi, các ngân hàng đã đưa ra các sản phẩm tiền gửi với nhiều hình thức huy động khác nhau, như: o Phân loại theo thời gian: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. o Phân loại theo đối tượng: tiền gửi của dân cư và tiền gửi của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội. Các doanh nghiệp do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh nên thường gửi một khối lượng tiền lớn vào ngân hàng để được hưởng những tiện ích trong thanh toán.
o Phân loại theo mục đích: tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi giao dịch hoặc tiền gửi thanh toán, tiền gửi “lai” (vừa tiết kiệm, vừa giao dịch). Nguồn đi vay: trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, nếu các NHTM nhận thấy nhu cầu vay vốn của khách hàng gia tăng mạnh hoặc ngân quỹ bị thiếu hụt do có nhiều dòng tiền rút ra, thì các NHTM có thể thực hiện vay nợ tại các nguồn sau: o Vay NHNN: đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách khi ngân hàng mất khả năng chi trả. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu, hoặc tái cấp vốn. o Vay các TCTD khác: là nguồn vốn mà các ngân hàng vay mượn lẫn nhau.
Các ngân hàng có quỹ đang thiếu hụt có thể tìm đến các ngân hàng khác hoặc các tổ chức tín dụng khác đang có lượng vốn dự trữ vượt yêu cầu để vay vốn. Như vậy các ngân hàng này có thể đảm bảo được thanh khoản, đồng thời các ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng khác cho vay có thể thu lại được một khoản lãi suất để làm dồi dào thêm nguồn vốn của mình. o Vay trên thị trường vốn: Thông qua thị trường tài chính, các NHTM có thể huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng chỉ tiền gửi, phát hành chứng khoán, và các giấy tờ có giá khác với nhiều loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau để đa dạng hoá các hình 10 thức huy động vốn, và đáp ứng đươc nhu cầu nắm giữ các tài sản khác nhau của khách hàng. o Vay từ các nguồn khác: ngoài các nguồn trên, ngân hàng còn có thể thực hiện việc huy đông vốn thông qua các nguồn khác, như: uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… 2.
Tổng quan về tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM 2. Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm Theo Phan Thị Thu Hà (2013) thì “tiền gửi tiết kiệm (“Savings deposit”) nhìn chung cũng là một dạng tiền gửi ngân hàng. Người gửi tiền có rất nhiều lý do và nhu cầu khác nhau khi gửi tiền vào ngân hàng. Trong đó, nếu xét về mục đích thì tiền gửi ngân hàng chia ra làm hai dạng, đó là: tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm.
Đúng như mục đích của người tiêu dùng, tiền gửi tiết kiệm có mục đích chính đó là tiết kiệm. Tức là đây là một khoản tiền chắc chắn dư dùng để dành hay đầu tư, chứ không thích hợp dành cho việc chi tiêu, thanh toán cá nhân, và người sử dụng luôn mong muốn có được một khoản lợi nhuận thu về từ việc gửi tiết kiệm này”. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Thông thường tiền gửi tiết kiệm được chia thành 2 loại: tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, và tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, với những đặc điểm như sau: Đặc điểm Tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn Thời gian gửi Có quy định kỳ hạn gửi tiền Không quy định kỳ hạn. tiền linh hoạt cụ thể, khách hàng được lựa chọn các kỳ hạn gửi tiền thường là 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng….
Khách hàng tất toán vào ngày Khách hàng có thể tất đáo hạn. toán bất kỳ lúc nào. Hình thức gửi Gửi tiền tiết kiệm qua quầy tại ngân Gửi tiền tiết kiệm qua quầy tại tiền đa dạng hàng, hoặc gửi tiền online… ngân hàng, hoặc gửi tiền online… Lãi suất Phụ thuộc vào từng kỳ hạn gửi tiền. Lãi suất thấp hơn tiền gửi có 11 Lãi suất trung bình ở mức 7% áp kỳ hạn.
dụng đối với kỳ hạn 12 tháng. Hình thức Sổ tiết kiệm Sổ tiết kiệm quản lý Mang tính ổn Do gửi tiền tiết kiệm tại ngân Do gửi tiền tiết kiệm tại ngân định và an hàng không có quá nhiều quy hàng không có quá nhiều quy toàn định, thủ tục khắt khe (như thẩm định, thủ tục khắt khe (như thẩm định, đóng bảo hiểm…) mà vẫn định, đóng bảo hiểm…) mà vẫn tận dụng được khả năng sinh lời tận dụng được khả năng sinh lời vốn có của tiền. vốn có của tiền. Các hình thức gửi tiền tiết kiệm phổ biến Hình thức Khái niệm Đặc điểm Gửi tiền tiết Khách hàng gửi tiền Mức lãi suất: Lãi suất thường thấp và kiệm không tiết kiệm theo hình chỉ được phép tính dựa trên số dư cuối kỳ hạn thức không quy định ngày.
Kỳ hạn gửi: Không có kỳ hạn cố định. Phương thức trả lãi: Trả lãi định kỳ hoặc trả lãi vào thời điểm mà khách hàng tất toán tiền gửi Rút tiền trước hạn: Khách hàng được phép rút tiền tại bất cứ thời điểm nào Hạn mức tiền gửi tối thiểu: 50.000 VND Sổ tiết kiệm có giá trị như là vật thế chấp. Loại tiền áp dụng: VND và USD Gửi tiết Khách hàng gửi tiền Mức lãi suất: Lãi suất thường cao hơn kiệm có kỳ tiết kiệm có quy định nhiều so với tiền gửi không kỳ hạn. hạn về kỳ hạn.
Kỳ hạn gửi: linh hoạt theo tuần, theo tháng hoặc theo năm. Phương thức trả lãi: Có 3 hình thức trả lãi là trả lãi trước, trả lãi định kỳ hoặc trả lãi sau. Rút tiền trước hạn: Khách hàng vẫn có thể tất toán khoản tiền gửi trước hạn và hưởng lãi suất không kỳ hạn thay vì mức lãi suất ban đầu Hạn mức tiền gửi tối thiểu: 1.000 VND 12 Sổ tiết kiệm có giá trị như là vật thế chấp Gửi tiết Người gửi được Lãi suất cạnh tranh theo kỳ hạn và mức kiệm bậc hưởng mức lãi suất lũy tiền gửi. thang tiến theo mức gửi của Người gửi được chủ động rút vốn theo khách hàng do từng nhu cầu mà không bị ràng buộc về mặt ngân hàng quy định thời gian.
Thủ tục nhanh gọn, tiện lợi. Hình thức gửi tiền và rút tiền đa dạng.