Chương 1. Chương này nêu lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu và mục tiêu của nghiên cứu này. Nó cung cấp một cái nhìn tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu, lợi ích của nghiên cứu và kết cấu của bài nghiên cứu. Phần này tóm tắt các tài liệu liên quan trong lĩnh vực nghiên cứu.
Trình bày những khái niệm và nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Sau đó xem xét và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất cũng như giả thuyết nghiên cứu. Nêu cách thức khảo sát, các phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng. Trình bày kết quả sau khi phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS và PLS-SEM, giải thích các số liệu đạt được từ việc phân tích dữ liệu.
Cuối cùng chương này sẽ nêu kết luận kết quả nghiên cứu và đề xuất hàm ý quản trị cũng như những hạn chế để mở rộng trong nghiên cứu tương lai.1 Khái niệm ý định tiếp tục sử dụng Theo Ajzen (1991) ý định bao gồm các yếu tố động cơ có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân. Các yếu tố này cho thấy mức độ sẳn sàng hoặc nổ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi. Ý định hành vi liên quan đến khả năng một cá nhân thực hiện một hành vi cụ thể (Oliver, 1997; Ajzen, 2002). Người ta nhận thấy rằng ý định hành vi là một yếu tố quyết định để dự đoán hành vi trong tương lai (Ouelette và Wood, 1998; Ajzen, 2002).
Perner (2010) định nghĩa người tiêu dùng là người có nhu cầu, có khả năng mua các sản phẩm và dịch vụ trên thị trường phục vụ cho cuộc sống; người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình. Việc hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sắm lần đầu và mua sắm lặp lại của người tiêu dùng chính là chìa khóa then chốt để các nhà quản trị đưa ra chiến lược cạnh tranh hợp lý và đúng đắn. Liên quan đến ý định tiếp tục sử dụng hay hành vi sử dụng lặp lại, Hoyer và MacInnis (2008) đã chỉ rõ hành vi sử dụng lặp lại là khi khách hàng hài lòng với việc sử dụng, thì họ có khuynh hướng lặp lại việc sử dụng nhãn hiệu hay sản phẩm mà họ hài lòng, điều này còn được hiểu như sự trung thành với nhãn hiệu. Bên cạnh đó, Kotler (2013) cũng chỉ ra hệ thống các yếu tố dẫn tới quyết định mua sắm lần đầu và mua sắm lặp lại của người tiêu dùng tương ứng với 3 giai đoạn khi ra quyết định.
Ở giai đoạn đầu tiên, các yếu tố kích thích marketing cũng như những kích thích bên ngoài (kinh tế, công nghệ, chính trị, văn hóa) đều tác động đến hành vi mua sắm của người tiêu dùng. Sau đó, tùy theo từng đặc điểm của người tiêu dùng như: văn hóa, xã hội, tâm lý và tính cách và thông qua quá trình ra quyết định như nhận thức vấn đề, tìm kiếm và đánh giá thông tin mà người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm nhất định. Điều này cho thấy việc mua sắm của người tiêu dùng bị tác động cùng lúc bởi ý thức của chính họ, những kích thích bên ngoài và lúc quyết định mua sắm. Ý định tiếp tục mua hàng của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi giá trị cảm nhận của sản phẩm, vì vậy nếu người tiêu dùng nhìn thấy giá trị của sản phẩm, họ sẽ có thái độ 11 tích cực đối với sản phẩm đó và có ý định mua nó (Chang và Wildt, 1994).
Trong nghiên cứu này, những khách hàng tại ngân hàng BIDV đã cài đặt và sử dụng ứng dụng nhưng có thể họ cảm thấy không hữu ích hoặc ứng dụng quá phức tạp khiến tần suất sử dụng của khách hàng ít lại hoặc thậm chí là ngủ đông. Vì vậy ý định tiếp tục sử dụng ứng dụng BIDV SmartBanking được hiểu là khách hàng nhận ra tính hữu ích của ứng dụng sẽ mong muốn sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu công việc và cuộc sống trong tương lai, tin rằng ứng dụng rất có ích cho cuộc sống hàng ngày và sẽ giới thiệu cho người khác.2 Lý thuyết lan tỏa sự đổi mới (Innovation Diffusion Theory - IDT) Lý thuyết lan tỏa đổi mới (IDT) của Rogers (1995) được coi là một trong những lý thuyết thích hợp nhất để hiểu vấn đề áp dụng đổi mới và công nghệ mới (Medlin, 2001). Theo lý thuyết này thì “quá trình mà (1) một sự đổi mới (2) được truyền đạt thông qua các kênh nhất định (3) theo thời gian (4) giữa các thành viên của một hệ thống xã hội” (Rogers, 2003, trang 11). Cụ thể hơn đổi mới là một ý tưởng, quy trình hoặc công nghệ được coi là mới hoặc không quen thuộc đối với các cá nhân trong một khu vực hoặc hệ thống xã hội cụ thể.
Sự lan tỏa là quá trình thông tin về sự đổi mới truyền từ người này sang người khác theo thời gian trong hệ thống xã hội.Theo mục đích của nghiên cứu này, ngân hàng di động được coi là sự đổi mới từ giao dịch truyền thống chuyển sang giao dịch trực tuyến, ngân hàng được coi là một kênhtruyền đạt sự đổi mới đó. Lý thuyết này còn gợi ý thêm về năm giai đoạn mà qua đó cá nhân có thể tiến bộ từ lần đầu tiên tiếp xúc với sự đổi mới đến giai đoạn chấp nhận sự đổi mới (Rogers, 2003). Giai đoạn đầu tiên là kiến thức khi người dùng tiếp xúc với sự đổi mới và tìm hiểu về mục đích và chức năng của nó. Giai đoạn thứ hai là thuyết phục, theo đó người dùng hình thành ý kiến tích cực hoặc tiêu cực về đổi mới để chấp nhận hoặc không chấp nhận đổi mới.
Giai đoạn ba là giai đoạn quyết định, khi người dùng quyết định áp dụng đổi mới họ sẽ thử đổi mới để xem tính hữu ích của nó trong hoàn cảnh sử dụng của họ. 12 Giai đoạn thứ tư là thực hiện, nghĩa là sau khi thử đổi mới, người dùng cảm thấy nó thật sự cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của họ thì họ quyết định áp dụng thật sự. Cuối cùng, giai đoạn năm, nếu hài lòng thì sự đổi mới được tích hợp hoàn toàn vào quy trình đang diễn ra và người áp dụng có thể bắt đầu quảng bá đổi mới cho những người khác. Mỗi giai đoạn này đều quan trọng và tương tác với các đặc điểm của một người (Alalwan và cộng sự, 2015).
Vì tầm quan trọng của những giai đoạn này, Rogers (2003) đã nghiên cứu sâu hơn và thảo luận về năm đặc điểm của những người chấp nhận có khả năng chấp nhận công nghệ đổi mới. Ông đã xác định năm nhóm người áp dụng công nghệ mới, thay đổi tùy theo thời gian sản phẩm mới được áp dụng trong vòng đời của nó. Những nhóm này là: những người đổi mới, những người chấp nhận sớm, đa số sớm, đa số muộn và những người đi sau (Rambocas & Arjoon, 2012). Mỗi cụm khác nhau tùy theo tỷ lệ áp dụng công nghệ sáng tạo.
Nhóm đầu tiên, được gắn nhãn là “những người đổi mới”, là nhóm người đại diện cho một nhóm khách hàng luôn háo hức và khao khát những ý tưởng mới. Nhóm thứ hai là “những người chấp nhận đổi mới sớm”, những người theo dõi sự đổi mới trong quá trình áp dụng của họ và làm như vậy tương đối sớm trong vòng đời của sản phẩm. Nhóm khách hàng thứ ba là “đa số sớm”, nghĩa là những người đầu tiên thu thập thêm thông tin về các sản phẩm và dịch vụ trước khi áp dụng. Xu hướng chấp nhận của họ phụ thuộc nhiều vào các khuyến nghị và đề xuất của nhóm người chấp nhận sớm.
Nhóm thứ tư là nhóm “đa số muộn”, nghĩa là chỉ chấp nhận sản phẩm đổi mới sau khi các nhóm khác đã thử sản phẩm và được chứng minh là thành công. Cuối cùng, nhóm thứ năm được gọi là những “kẻ tụt hậu”, những người thường nghi ngờ về các sản phẩm mới, thường bị xã hội phát triển nhanh chóng và bỏ lại sau lưng (Alalwan và cộng sự, 2015). 13 Theo lý thuyết, tốc độ lan truyền của đổi mới, nghĩa là tỷ lệ chấp nhận được xác định bởi các đặc điểm của đổi mới là lợi thế tương đối, tính tương thích, độ phức tạp, khả năng thử nghiệm và khả năng quan sát. Lợi thế tương đối là mức độ mà một đổi mới được coi là tốt hơn so với ý tưởng mà nó đặt ra; tính tương thích là mức độ mà một đổi mới được coi là phù hợp với các giá trị hiện có; độ phức tạp là mức độ mà một đổi mới được coi là tương đối khó hiểu và khó sử dụng; khả năng thử nghiệm là mức độ mà một đổi mới có thể được thử nghiệm trên cơ sở hạn chế; khả năng quan sát là mức độ mà kết quả của một sự đổi mới có thể nhìn thấy được đối với những người khác (Rogers, 2003).3 Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model - TAM) Mô hình chấp nhận công nghệ là sự mở rộng của mô hình lý thuyết hành động hợp lý (TRA) được Davis đưa ra vào năm 1986.
Lý thuyết này chủ yếu dựa trên ý tưởng về việc áp dụng công nghệ, TAM đã thay thế TRA bằng hai tính năng được chấp nhận về công nghệ, tính hữu ích và tính dễ sử dụng đã được chứng minh là có ý nghĩa đối với việc áp dụng các công nghệ như ngân hàng di động. Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) đề xuất hai khái niệm: tính hữu ích được cảm nhận và tính dễ sử dụng ảnh hưởng đến thái độ sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của một cá nhân, sau đó thái độ ảnh hưởng đến ý định sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ và cuối cùng là ý định ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thực tế một sản phẩm hoặc dịch vụ của một cá nhân. Tính hữu ích được định nghĩa là “mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một công nghệ nhất định sẽ mang lại lợi ích và cải thiện hiệu suất công việc của họ”. Tính dễ sử dụng được định nghĩa là “mức độ mà một cá nhân tin rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ không cần nỗ lực về thể chất và tinh thần” (Davis và cộng sự, 1989).