mở đầu cho thanh toán không dùng tiền mặt, được thực hiện bằng cách ngân hàng trích chuyển từ tài khoản của người này sang tài khoản của người khác theo lệnh trả tiền của chủ tài khoản và được hưởng một khoản phí nhất định. Khách hàng có thể sử dụng dịch vụ này để chuyển tiền cho các nhà cung cấp, các chủ nợ hoặc dùng để trả lương trực tiếp cho nhân viên qua tài khoản. Ngân hàng thay mặt khách hàng thực hiện chuyển tiền thông qua thanh toán bù trừ, qua mạng lưới thanh toán điện tử trong nội bộ hệ thống ngân hàng hay khác hệ thống ngân hàng, chuyển khoản trong nước hay nước ngoài. Các hình thức chuyển tiền nước ngoài rất đa dạng bao gồm chuyển tiền du học, tiền trợ cấp thân nhân ở nước ngoài, tiền chữa bệnh, tiền thừa kế và tiền định cư ra nước ngoài.
Có rất nhiều phương thức chuyển tiền qua hệ thống ngân hàng như qua séc, ủy nhiệm chi, thẻ, chuyển tiền qua điện thoại và mạng vi tính…Việc chuyển tiền qua tài khoản được coi là bước tiến quan trọng trong công nghệ ngân hàng vì nó 123doc 10 cải thiện đáng kể hiệu quả của quá trình thanh toán, làm cho các giao dịch kinh doanh trở nên dễ dàng, nhanh chóng và an toàn.4 Dịch vụ thẻ. Thẻ ngân hàng là một sản phẩm tài chính cá nhân đa chức năng do ngân hàng phát hành, đem lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Thẻ có thể sử dụng để rút tiền, gửi tiền, cấp tín dụng, thanh toán hóa đơn dịch vụ hay để chuyển khoản. Thẻ cũng được sử dụng cho nhiều dịch vụ phi tài chính như tra vấn thông tin tài khoản…Thẻ thanh toán hiện nay có rất nhiều loại khác nhau, nhưng nhìn chung có hai loại cơ bản là thẻ ghi nợ nội địa và quốc tế, thẻ tín dụng.
Thẻ ghi nợ sử dụng số dư hiện có trên tài khoản cá nhân. Còn thẻ tín dụng nổi bật với tính năng “chi tiêu trước, trả tiền sau” trên cơ sở được ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng. Dịch vụ thẻ góp phần quan trọng cho NHTM trong việc huy động vốn, thu phí dịch vụ và nâng cao hình ảnh của ngân hàng trong công chúng. Sản phẩm dịch vụ thẻ đi liền với ứng dụng công nghệ và khả năng liên kết giữa các NHTM trong khai thác thị trường và tận dụng cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin.5 Dịch vụ ngân hàng điện tử.
Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin trong những năm gần đây đã ảnh hưởng khá rõ nét đến sự phát triển của công nghệ ngân hàng. Hiện nay ở nhiều nước trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử đã phát triển khá phổ biến, đa dạng về loại hình sản phẩm và dịch vụ. Các sản phẩm và dịch vụ bao gồm: Call center. Cung cấp thông tin và giải đáp các thắc mắc, khiếu nại của khách hàng.
Hiện nay hầu hết các ngân hàng đều có trung tâm call center. Khác với phone banking chỉ cung cấp các loại thông tin lập trình sẵn, call centre có thể linh hoạt cung cấp thông tin hoặc trả lời các thắc mắc của khách hàng. Nhược điểm của call centre là phải có người trực 24/24 giờ. Cung cấp thông tin ngân hàng qua điện thoại hoàn toàn tự động.
Do tự động nên các loại thông tin được ấn định trước, bao gồm thông tin về tỷ giá hối đoái, lãi suất, giá chứng khoán, thông tin cá nhân cho khách hàng như số dư tài khoản, liệt 123doc 11 kê năm giao dịch cuối cùng trên tài khoản, các thông báo mới nhất… Hệ thống cũng tự động gửi fax khi khách hàng yêu cầu cho các loại thông tin nói trên. Hiện nay qua phone banking, thông tin được cập nhật, khác với trước đây khách hàng chỉ có thông tin của cuối ngày hôm trước. Là loại hình dịch vụ ngân hàng giao dịch qua điện thoại di động. Khách hàng có thể kiểm tra số dư tài khoản, liệt kê giao dịch, nhận thông báo số dư, tỷ giá, lãi suất tự động qua tin nhắn SMS Banking, thanh toán hóa đơn tiền điện, nước, điện thoại, internet… Home banking.
Là dịch vụ mà khách hàng giao dịch với ngân hàng qua mạng nội bộ Intranet do ngân hàng xây dựng riêng. Các giao dịch được tiến hành tại nhà thông qua hệ thống máy tính nối với hệ thống máy tính của ngân hàng. Thông qua dịch vụ home banking, khách hàng có thể thực hiện các giao dịch về chuyển tiền, liệt kê giao dịch, tỷ giá, lãi suất, báo nợ, báo có … Để sử dụng được dịch vụ home banking khách hàng chỉ cần có máy tính kết nối với hệ thống máy tính của ngân hàng thông qua modem – đường điện thoại quay số, đồng thời khách hàng phải đăng ký số điện thoại và chỉ những số điện thoại này mới được kết nối với hệ thống home banking. Là dịch vụ mà khách hàng giao dịch thông qua internet.
Để tham gia, khách hàng truy cập vào website của ngân hàng và thực hiện giao dịch tài chính, truy cập thông tin cần thiết. Thông tin rất phong phú, chi tiết giao dịch của khách hàng cũng như thông tin khác về ngân hàng. Khách hàng có thể truy cập vào các Website khác để mua hàng và thực hiện thanh toán với ngân hàng. Tuy nhiên, khi kết nối internet thì ngân hàng phải có hệ thống bảo mật đủ mạnh để đối phó với rủi ro trên phạm vi toàn cầu.
Đây là trở ngại lớn vì đầu tư hệ thống bảo mật rất tốn kém.6 Dịch vụ ngoại hối. Dịch vụ mua bán ngoại tệ giao ngay - Spot: là dịch vụ trong đó hai bên thực hiện mua bán một số ngoại tệ theo tỷ giá được xác định tại thời điểm ký hợp đồng và kết thúc thanh toán chậm nhất là sau 2 ngày làm việc. 123doc 12 Dịch vụ mua bán ngoại tệ có kỳ hạn - Forward: là dịch vụ mua bán ngoại tệ mà mọi điều kiện được xác định tại thời điểm ký hợp đồng nhưng sẽ thực hiện sau một thời gian nhất định trong tương lai từ 1 đến 12 tháng. Dịch vụ hoán đổi ngoại tệ - Swap: là sự kết hợp đồng thời giữa một giao dịch giao ngay với một giao dịch kỳ hạn.
Một đồng tiền được chuyển đổi sang một đồng tiền khác trong một thời gian nhất định, bằng cách cùng một lúc ký hợp đồng mua, bán đồng tiền đó vào một thời hạn khác trong tương lai bằng một hợp đồng kỳ hạn. Dịch vụ quyền chọn mua bán ngoại tệ - Options: là nghiệp vụ mà trong đó ngân hàng sẽ ký hợp đồng quyền chọn với khách hàng về việc mua hoặc bán ngoại tệ theo một số lượng, tỷ giá và thời hạn nhất định nhưng dành quyền chọn cho khách hàng. Nghĩa là cho khách hàng quyền quyết định có thực hiện hay không hợp đồng mua bán ngoại tệ đã ký. Đồng thời, khách hàng phải trả một khoản phí cho ngân hàng ngay khi ký hợp đồng.7 Dịch vụ NHBL khác.
Ngoài những dịch vụ ở trên, NHTM còn cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng dành cho khách hàng như: Dịch vụ chi trả kiều hối. Đây là dịch vụ mà các ngân hàng trung gian dùng để chuyển nguồn tiền của kiều bào về cho thân nhân. Các ngân hàng thường liên kết với các tổ chức chuyên về dịch vụ chuyển tiền cá nhân quốc tế như Western Union, Moneygram. Ngoài các khoản phí chuyển tiền kiều hối thu được, các ngân hàng có cơ hội thu lợi nhuận từ hoạt động chuyển đổi ngoại tệ trong các giao dịch kiều hối.
Dịch vụ ủy thác. Là ngân hàng làm theo sự ủy thác của khách hàng để thu tiền hoa hồng, bao gồm các loại sau: Quản lý di sản: được hình thành và áp dụng đối với tài sản của người đã mất theo di chúc. Quản lý tài sản theo hợp đồng đã ký kết: ngân hàng quản lý hộ tài sản cho khách hàng theo một hợp đồng ủy quyền được ký kết với người ủy thác. 123doc 13 Ủy thác giám hộ: ngân hàng quản lý toàn bộ tài sản cho một người không đủ khả năng về mặt pháp lý.
Ủy thác quản lý ngân quỹ: ngân hàng sẽ đảm nhiệm việc thu chi tiền mặt cho khách hàng thông qua hệ thống chi nhánh cũng như có thể cử nhân viên đến tận doanh nghiệm để thực hiện dịch vụ này. Dịch vụ đại diện: tiếp nhận và quản lý tài sản như thu vốn gốc và lợi tức chứng khoán, đại điện tố tụng. Dịch vụ giữ hộ. Đây là dịch vụ mà ngân hàng sẽ giữ hộ giúp khách hàng các tài sản quý như giấy tờ nhà, sổ tiết kiệm, vàng miếng, cổ phiếu, trái phiếu … một cách an toàn, tiện lợi và bảo mật thông tin.
Dịch vụ bảo hiểm. Các ngân hàng cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho tất cả các khách hàng thông qua các công ty con hoặc các nhà môi giới bảo hiểm của mình. Đối với cá nhân có rất nhiều loại bảo hiểm như bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm lữ hành, bảo hiểm ô tô … Dịch vụ tư vấn tài chính. Các khách hàng muốn đầu tư vào một lĩnh vực nào đó trong khi họ không có đủ thông tin và khối lượng kiến thức, ngân hàng có thể cung cấp dịch vụ tư vấn dựa trên khối lượng thông tin và trình độ cán bộ được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ.
Ngân hàng có thể tư vấn cho khách hàng nhiều lĩnh vực như tư vấn thuế, tư vấn thành lập doanh nghiệp, đầu tư bất động sản, tư vấn hoạt động kinh doanh chứng khoán … 1.3 Chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại ngân hàng thương mại.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ. Parasuraman & ctg (1985) đã đưa ra định nghĩa “Chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ”. Hay “Chất lượng dịch vụ là một sự đo lường mức độ dịch vụ được đưa đến khách hàng tương xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. Việc tạo ra một dịch 123doc 14 vụ chất lượng nghĩa là đáp ứng mong đợi của khách hàng một cách đồng nhất” (Lewis & Booms _1983) Từ việc tìm hiểu khái niệm dịch vụ NHBL và định nghĩa về chất lượng dịch vụ, có thể hiểu chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ là khoảng cách giữa sự mong đợi về dịch vụ NHBL sẽ được cung cấp và nhận thức của họ khi đã sử dụng dịch vụ NHBL.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ.1 Khái niệm về nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng bán lẻ.