phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết cấu luận văn có 05 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng. Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 5: Kết luận và hàm ý quản trị 1.6 Đóng góp của đề tài Trên cơ sở phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng đối với chất lƣợng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - chi nhánh Nam Đồng Nai cũng nhƣđánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố đến chất lƣợng dịch vụ tại Agribank Chi nhánh Nam Đồng Nai; từ đó đƣa ra các hàm ý quản trị nh m nâng cao sự hài lòng của khách đối với chất lƣợng dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Nam Đồng Nai. Kết luận chƣơng 1 Trong chƣơng 1, tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu, đƣa ra các mục tiêu cụ thể của đề tài, đối tƣợng và phƣơng pháp nghiên cứu, đây là cơ sở để đƣa ra các cơ sở lý thuyết liên quan ở chƣơng tiếp theo. 6 CHƢƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 2.1 Cơ sở lý thuyết sự hài lòng về chất lƣợng dịch vụ ngân hàng 2.1 Khái niệm về sự hài lòng Theo Philip Kotler, sự thỏa mãn – hài lòng của khách hàng (customer satisfaction) là mức độ của trạng thái cảm giác của một ngƣời bắt nguồn từ việc so sánh kết quả thu đƣợc từ việc tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ với những kỳ vọng của anh ta.
Mức độ hài lòng phụ thuộc sự khác biệt giữa kết quả nhận đƣợc và kỳ vọng: + Nếu kết quả thực tế thấp hơn kỳ vọng thì khách hàng không hài lòng. + Nếu kết quả thực tế tƣơng xứng với kỳ vọng thì khách hàng sẽ hài lòng. + Nếu kết quả thực tế cao hơn kỳ vọng thì khách hàng rất hài lòng. Kỳ vọng của khách hàng đƣợc hình thành từ kinh nghiệm mua sắm, từ bạn bè,đồng nghiệp và từ những thông tin của ngƣời bán vàđối thủ cạnh tranh.
Để nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng, doanh nghiệp cần có những khoản đầu tƣ thêm mà chí ít cũng làđầu tƣ thêm những chƣơng trình marketing.2 Chấ lượng dịch vụ ngân hàng 2.1 Khái niệm dịch vụngân hàng Dịch vụ là một khái niệm phổ biến, có rất nhiều cách định nghĩa về dịch vụ. Theo Zeithaml & Britner (2000), dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nh m tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Theo Gronroos (1990), dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tƣơng tác giữa khách hàng và các 7 nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ. Kotler và Amstrong (1991) thì dịch vụ đƣợc định nghĩa nhƣ sau: Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính chất vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao nào cả.
Hiện nay, không cóđịnh nghĩa thống nhất về dịch vụ ngân hàng và cũng không có sự phân biệt rõ ràng giữa dịch vụ ngân hàng các dịch vụ tài chính khác. Ngay cả Hiệp định chung về thƣơng mại (GATS) của WTO cũng không đƣa ra khái niệm dịch vụ mà chỉ chia ra thành 12 ngành lớn, trong mỗi ngành lại liệt kê các hoạt động dịch vụ cụ thể. Dịch vụ tài chính đƣợc xếp trong ngành thứ 7, bao gồm: dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Dịch vụ ngân hàng trong bảng phân ngành dịch vụ của WTO đƣợc chia thành 12 ngành cụ thể sau: - Nhận tiền gửi và các loại quỹ có thể hoàn lại trong công chúng; - Các hình thức cho vay, bao gồm tín dụng khách hàng, tín dụng cầm cố, quản lý và tài trợ các giao dịch thƣơng mại; - Cho thuê tài chính; - Các dịch vụ thanh toán và chuyển tiền; - Bảo lãnh và ủy thác; - Kinh doanh với danh nghĩa bản thân và khách hàng, trên thị trƣờng hối đoái, thị trƣờng mua bán thẳng hoặc các thị trƣờng khác nhƣ các công cụ của thị trƣờng tiền tệ, công cụ phái sinh,; - Tham gia vào các hoạt động chứng khoán khác bao gồm cả bảo đảm vàđặt chỗ nhƣ một đại lý; - Môi giới tiền tệ; 8 - Quản lý tài sản; - Dịch vụ giải quyết và thanh toán các tài sản tài chính; - Dịch vụ tƣ vấn tài chính; - Cung cấp và chuyển tiến thông tin tài chính, và xử lý các dữ liệu tài chính.
Trên đây là các dịch vụ do ngân hàng thƣơng mại cung cấp theo quản lý của Tổ chức Thƣơng mại Thế giới. Tuy nhiên, tùy thuộc vào sự phát triển kinh tế của từng nƣớc và khả năng của từng ngân hàng mà các ngân hàng sẽ lựa chọn loại hình dịch vụ nào để cung cấp cho khách hàng.2 Khái niệm chất lượng dịch vụ Chất lƣợng dịch vụ là mức độ mà một dịch vụ đáp ứng đƣợc nhu cầu và sự mong đợi của khách hàng (Lewis & Mitchell, 1990; Asubonteng & ctg, 1996; Wisniewski & Donnelly, 1996).Chất lƣợng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng đƣợc sự mong đợi của khách hàng và làm thỏa mãn nhu cầu của họ (Edvardsson, Thomsson & Ovretveit 1994). Theo Parasuraman & ctg (1985, 1988), chất lƣợng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi của khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ. Như vậy, đối với chất lượng dịch vụ sẽ có những đặc điểm sau: + Chất lƣợng dịch vụ là do khách hàng quyết định.
Nhƣ vậy, chất lƣợng là phạm trù mang tính chủ quan, tùy thuộc vào nhu cầu, mong đợi của khách hàng. + Cùng một mức chất lƣợng dịch vụ nhƣng các khách hàng khác nhau sẽ có cảm nhận khác nhau, và ngay cả cùng một khách hàng cũng có cảm nhận khác nhau ở các giai đoạn khác nhau. + Đối với ngành dịch vụ, chất lƣợng phụ thuộc nhiều vào nhân viên cung cấp dịch vụ, do vậy khó đảm bảo tính ổn định. Đồng thời, chất lƣợng mà khách hàng cảm nhận phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại vi: Môi trƣờng, phƣơng tiện thiết bị, phục vụ, thái độ của nhân viên phục vụ.3 Đo lường chất lượng dịch vụ Gronroos (1984) thì cho r ng, chất lƣợng dịch vụ là chất lƣợng mà khách hàng cảm nhận thông qua dịch vụ mà họ nhận đƣợc, nó mang tính chủ quan và đƣợc giải thích từ những đặc tính khách quan.Theo tác giả này, chất lƣợng dịch vụ có thể tách thành chất lƣợng kỹ thuật và chất lƣợng chức năng.
Theo Parasuraman & ctg (1985), chất lƣợng dịch vụ có thể đƣợc xác định thông qua việc đo lƣờng sự chênh lệch giữa mức độ kỳ vọng và giá trị cảm nhận thật sự của khách hàng về dịch vụ đó. Tuy ít phức tạp hơn nhƣng để thực hiện đƣợc điều này thật không đơn giản vì cảm nhận của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ không hoàn toàn giống nhau. Theo Kurtz và Clow (1998) thì mức kỳ vọng của khách hàng phụ thuộc nhiều yếu tố khác nhau và đƣợc chia thành ba nhóm chính: Các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài, nhà cung cấp.1: Sự hình thành kỳ vọng của khách hàng Sự kỳ vọng của khách hàng Các yếu tố bên trong Các yếu tố bên ngoài Nhà cung cấp - Nhu cầu - Sự cạnh tranh - Chiêu thị - Mức độ liên quan - Bối cảnh xã hội - Phân phối - Kinh nghiệm - Truyền miệng - Giá cả Nguồn: Kurtz & Clow (1998) 2.4 Mô hình năm khoảng cách chất lượng dịch vụ Theo Parasuraman và các đồng sự, để đánh giá chất lƣợng dịch vụ chúng ta phải xem xét khoảng cách giữa giữa chất lƣợng kỳ vọng và dịch vụ mà khách hàng nhận đƣợc.Parasuraman và các đồng sự cũng đƣa ra mô hình 5 khoảng cách chất lƣợng dịch vụ nhƣ hình 2.nhƣ sau: 10 Hình 2.2: Mô hình năm khoảng cách chất lƣợng dịch vụ Nguồn: Parasuraman, A.L (1985) + Khoảng cách 1: Khoảng cách thứ 1 hay còn gọi là khoảng cách về hiểu biết (Knowledge gap) xuất hiện khi kỳ vọng của khách hàng về chất lƣợng dịch vụ có sự khác biệt với cảm nhận của nhà quản trị dịch vụ. Sự khác biệt này đƣợc hình thành do công ty dịch vụ chƣa tìm hiểu hết những đặc điểm nào tạo nên chất lƣợng dịch vụ, và có những nhận định về kỳ vọng của khách hàng chƣa đúng thực tế.
+ Khoảng cách 2: Khoảng cách thứ 2 hay còn gọi là khoảng cách về tiêu chuẩn dịch vụ (Standard gap) xuất hiện khi công ty dịch vụ gặp khó khăn trong việc xây dựng những tiêu chí chất lƣợng dịch vụ sao cho phù hợp với những nhận định về kỳ vọng dịch vụ của khách hàng. + Khoảng cách 3: Khoảng cách thứ 3 hay còn gọi là khoảng cách về hành vi (Behavior gap) xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lƣợng dịch vụ cung cấp thực tế với những tiêu chí chất lƣợng dịch vụ mà công ty đƣa ra. Khoảng cách này liên 11 quan trực tiếp đến hoạt động cung ứng dịch vụ đến khách hàng, đó là việc không hoàn thành hết tất cả các tiêu chí chất lƣợng dịch vụ mà công ty đƣa ra + Khoảng cách 4: Khoảng cách thứ 4 hay còn gọi là khoảng cách về truyền thông (Communication gap) thể hiện sự khác biệt về những hứa hẹn trong các chƣơng trình quảng cáo khuyến mại với những thông tin thực tế về dịch vụ cung cấp mà khách hàng nhận đƣợc. Những hứa hẹn qua các chƣơng trình truyền thông có thể gia tăng kỳ vọng của khách hàng nhƣng cũng sẽ làm giảm sự hài lòng về chất lƣợng mà khách hàng cảm nhận những điều nhận đƣợc không đúng với những gì mà công ty dịch vụ đã hứa.
Nghĩa là khoảng cách này xuất hiện khi có sự so sánh chất lƣợng mà khách hàng cảm nhận đƣợc với những thông tin dịch vụ đã đƣợc truyền tải đến họ. + Khoảng cách 5: Xuất hiện khi có sự khác biệt giữa chất lƣợng kỳ vọng bởi khách hàng và chất lƣợng họ cảm nhận đƣợc sau khi sử dụng dịch vụ. Chất lƣợng dịch vụ phụ thuộc vào khoảng cách thứ năm này.Khoảng cách thứ 5 chính là tiêu chí cuối cùng các nhà quản trị chất lƣợng dịch vụ hƣớng tới.