Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu. Trình bày lý do chọn đề tài, câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và kết cấu luận văn. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về quyết định gửi tiền của khách hàng cá nhân, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền của khách hàng, các nghiên cứu liên quan, khung lý thuyết và các giả thuyết nghiên cứu.
Mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo, phương pháp chọn mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu. Tổng quan về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Kiên Giang. 123doc 4 Quá trình hình thành, chức năng nhiệm vụ, tình hình hoạt động kinh doanh và định hướng phát triển của Chi nhánh.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, phân tích hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu. Kết luận và hàm ý chính sách. Chương này trình bày những kết quả mà đề tài đạt được, các giải pháp hàm ý chính sách giúp Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Kiên Giang thu hút ngày càng nhiều khách hàng tham gia gửi tiền tại Ngân hàng, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
123doc 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TỪ KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái niệm huy động Huy động vốn là việc tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng theo nguyên tắc hoàn trả gốc và lãi. Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng đối với mỗi ngân hàng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.
Nguồn vốn này thực chất là tài sản của các chủ sở hữu mà ngân hàng đang tạm quản lý và sử dụng, đây là nguồn tiền đang nhàn rỗi của xã hội được ngân hàng huy động để tạo nên nguồn vốn cung cấp cho nền kinh tế (trích theo Phạm Thị Kiều Ngân, 2015). Khái niệm về tiền gửi của khách hàng cá nhân Tiền gửi của khách hàng cá nhân là một khái niệm rất rộng. Trong hoạt động ngân hàng, khái niệm này được sử dụng để chỉ các khoản tiền được gửi ở các Tổ chức tín dụng (TCTD) dưới nhiều hình thức khác nhau của nhiều chủ thể khác nhau. Tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác định trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi (trích theo Phan Thị Cúc, 2008).
Các hình thức huy động tiền gửi của NHTM Tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân: Đây là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào. Tiền gửi thanh toán này được gửi trong tài khoản gọi là tài khoản vãng lai. Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải để lấy lãi mà chủ yếu dùng để thanh toán. Khách hàng gửi tiền phần lớn là những tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, các cá nhân làm ăn buôn bán phải thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ.
Hình thức gửi tiền có thể là tiền mặt hay chuyển khoản. Đặc biệt người gửi tiền có thể không cần trực tiếp đến ngân hàng mà có thể rút tiền qua máy rút tiền tự động (ATM). Do tính chất của tiền gửi này 123doc 6 có thể gửi vào và rút ra bất kỳ lúc nào nên loại hình tiền gửi này thường được hưởng lãi suất rất thấp, thậm chí không trả lãi. Tuy nhiên, ở nhiều nước có tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt chưa nhiều (trong đó có Việt Nam) để khuyến khích, động viên người gửi tiền, ngân hàng vẫn áp dụng hình thức trả lãi cho khoản tiền gửi này.
Mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để đảm bảo an toàn cho khoản tiền và sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng, chính vì vậy công cụ chính để ngân hàng thu hút nguồn vốn này là các dịch vụ thanh toán của ngân hàng với nhiều dịch vụ thanh toán tiện ích, nhanh chóng, an toàn và chính xác cùng với hệ thống mạng lưới rộng khắp đáp ứng tốt các nhu cầu của người gửi tiền. Mặc dù bản chất của loại tiền gửi này thường thiếu tính ổn định, nhưng theo xu hướng hiện nay các ngân hàng vẫn rất quan tâm đến lượng tiền gửi này. Vì đây là nguồn vốn được huy động với chi phí rất thấp nếu khai thác tốt các ngân hàng sẽ gia tăng hiệu quả sử dụng vốn và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân: Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi.
Họ gửi vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền này. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thỏa thuận với ngân hàng. Hiện nay tiền gửi tiết kiệm là khu vực tiềm năng đồng thời là nơi cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng, để thu hút nguồn tiền này, các ngân hàng luôn đưa ra các hình thức huy động đa dạng như tiết kiệm bằng Việt Nam Đồng, bằng vàng và ngoại tệ, với lãi suất cạnh tranh hấp dẫn cùng nhiều kỳ hạn để người gửi có nhiều cơ hội lựa chọn cho phù hợp, tiện ích nhất. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là khoản tiền gửi không xác định thời hạn, người gửi có thể gửi tiền, rút tiền bất kỳ lúc nào mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của ngân hàng nhận gửi tiền.
Vì ngân hàng không chủ động được nguồn vốn nên loại tiền gửi này thường có lãi suất thấp. Khi gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn, khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm. Sổ tiền gửi tiết kiệm này phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, tiền lãi được hưởng và số dư hiện có. Hình thức này gần giống như huy động tiền gửi thanh toán.
Tuy nhiên, so với tiền gửi thanh toán thì số dư có phần ổn định hơn, ít biến động hơn nên ngân hàng phải trả lãi suất cao hơn. 123doc 7 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn được thiết kế dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lời và thiết lập được kế hoạch sử dụng trong tương lai. Đây là lại hình tiết kiệm phổ biến nhất, quen thuộc nhất ở nước ta. Với loại tiền gửi tiết kiệm này, người gửi tiền chỉ rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng nhận gửi tiết kiệm.
Trường hợp người gửi tiền rút tiền trước hạn thì người gửi tiền sẻ được hưởng theo lãi suất không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn tương ứng với thời hạn gửi (tùy vào sự thỏa thuận ban đầu giữa người gửi tiền và ngân hàng). Khi gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn thì khách hàng được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Đây là những khoản tiền có tính chất ổn định rất cao nên ngân hàng phải trả cho khách hàng với lãi suất gần như là cao nhất. Các hình thức huy động khác: Kỳ phiếu: là giấy nhận nợ của ngân hàng phát hành với mục đích đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh trong một thời gian, thường là dưới 12 tháng với mức lãi suất thích hợp.
Tiền lãi của kỳ phiếu được trả trước, định kỳ hoặc trả khi đáo hạn. Kỳ phiếu đáo hạn không được chuyển sang kỳ hạn tiếp theo, lúc này lãi của kỳ phiếu tiếp theo được trả theo lãi suất không kỳ hạn (giống lãi suất tiền gửi thanh toán). Trái phiếu: là giấy nhận nợ do ngân hàng phát hành, cam kết trả cho người mua trái phiếu số vốn đã huy động cùng với một khoản lãi tương ứng sau một thời gian nhất định, tối thiểu là 12 tháng. Tiền lãi được trả ngay khi gửi, định kỳ hoặc khi đáo hạn.
Có 2 loại trái phiếu: trái phiếu vô danh (loại trái phiếu phát hành theo hình thức chứng chỉ không ghi tên người sở hữu) và trái phiếu ghi danh (loại trái phiếu phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi sổ có tên người sở hữu). Tầm quan trọng của huy động vốn Đối với NHTM: Huy động vốn mang lại nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác: tín dụng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ, phát triển khoa học công nghệ ngân hàng …Cũng như bất kỳ loại hình doanh nghiệp khác, nguồn vốn có vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Phần lớn vốn huy động của các NHTM đều xuất phát từ việc huy động nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của các cá nhân, doanh nghiệp cũng như vay mượn từ các nhà đầu tư trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Với đặc thù của ngân hàng là " nhận tiền gửi và kinh doanh tiền gửi" do đó nguồn vốn đóng vai trò rất quan trọng để mở rộng quy mô tài 123doc 8 sản có, nâng cao năng lực cạnh tranh, mở rộng thị phần, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ .đồng thời thông qua huy động vốn NHTM có thể đo lường sự tín nhiệm, uy tín của ngân hàng đối với khách hàng.
Đối với khách hàng: Huy động vốn cung cấp cho khách hàng một kênh tiết kiệm và đầu tư, làm cho tiền của họ sinh lợi bằng cách gửi tiền vào ngân hàng để được hưởng lãi. Từ đó, tạo điều kiện cho họ gia tăng khả năng tiêu dùng trong tương lai. Qua việc huy động vốn, ngân hàng cung cấp cho khách hàng một nơi an toàn để cất trữ, tích lũy vốn tạm thời nhàn rỗi, đồng thời giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận các dịch vụ, đặc biệt dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, hoặc dịch vụ tín dụng khi họ cần vốn cho sản xuất kinh doanh, tiêu dùng và dịch vụ ủy thác thu hộ, chi hộ giúp họ tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển, nhân lực, vật lực. Đối với nền kinh tế: Hệ thống ngân hàng giữ một vai trò hết sức quan trọng, là một trong những kênh huy động và điều hòa vốn chủ yếu của nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế toàn cầu hóa như nước ta hiện nay.
Mọi hoạt động kinh doanh của ngân hàng đều liên quan mật thiết đến mọi hoạt động của đời sống xã hội.