CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG THEO BASEL II TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. Khái quát về quản trị rủi ro tín dụng tài Ngân hàng thương mại: Tín dụng ngân hàng đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế các quốc gia, đặc biệt đối với nền kinh tế Việt Nam do thị trường vốn, thị trường chứng khoán còn chưa phát triển. Tín dụng có vai trò thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn và phân bổ lại nguồn lực đầu tư của xã hội vào lĩnh vực của nền kinh tế một cách có hiệu quả. Đối với các ngân hàng thương mại thì tín dụng đem lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng tuy nhiên nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất.
Thực tế chứng minh rằng có nhiều ngân hàng lớn nhưng do việc quản trị rủi ro tín dụng không tốt đã làm cho ngân hàng bị giảm sút lợi nhuận, thậm chí rơi vào diện phải tái cấu trúc theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước. Khái niệm rủi ro tín dụng: Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng, tín dụng đem lại phần lớn nguồn lợi nhuận cho các ngân hàng nhưng trên thực tế tín dụng lại chứa đựng nhiều rủi ro nhất. Theo các nghiên cứu cho thấy, RRTD chiếm khoảng 70% trên tổng số rủi ro của ngân hàng. Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ - NHNN ngày 24/04/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Theo tài liệu Quản trị ngân hàng (Bank Management) xuất bản năm 1995 của Đại học Nam Carolina có đưa ra khái niệm nhiệm sau: “Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn”. Theo khái niệm này thì rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng phải chịu tổn thất về tài sản do khách hàng không thanh toán hay suy giảm về thu nhập do thanh toán muộn hơn so với thời hạn quy định. Trong tài liệu Quản trị các tổ chức tài chính – Một cách nhìn hiện đại (Financial Institutions Management – a Modern Perspective) xuất bản năm 1994 9 của A. Saunders đưa ra khái niệm sau: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể thực hiện được đầy đủ về mặt số lượng và thời hạn.
Theo từ điển thuật ngữ ngân hàng của Thomas P.Fisch (“Dictionary of banking terms”) xuất bản năm 2000 định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn tới sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.” Một cách tổng quát có thể hiểu RRTD trong hoạt động tín dụng của NHTM là sự không chắc chắn trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán của người được cấp tín dụng cho ngân hàng theo các điều khoản đã thỏa thuận. RRTD là không thể tránh khỏi đối với bất kỳ NHTM nào có hoạt động tín dụng. Hoạt động của NHTM liên quan đến việc chấp nhận rủi ro để thu lợi nhuận.
Vì vậy, có thể nói hoạt động tín dụng của NHTM là hoạt động dựa trên rủi ro. Tuy nhiên, mỗi ngân hàng cần xác định mức độ rủi ro nhất định mà ngân hàng có thể chịu đựng được trên cơ sở mục tiêu, kế hoạch kinh doanh đã được xác định cụ thể trong từng giai đoạn nhất định. Phân loại rủi ro tín dụng Có nhiều cách phân loại rủi ro tín dụng khác nhau tuỳ theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu. Tuỳ theo tiêu chí phân loại mà người ta chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau.
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro: Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: - Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSĐB. 10 - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. - Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. - Rủi ro tập trung: Khi ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng; cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao.
Rủi ro tác nghiệp: Là nguy cơ tổn thất trực tiếp hoặc gián tiếp do cán bộ ngân hàng, quá trình xử lý và hệ thống nội bộ không đầy đủ hoặc không hoạt động hoặc do các sự kiện bên ngoài tác động vào hoạt động ngân hàng. ❖ Căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn: Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, ngân hàng và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên, đến thời hạn quy ước nhưng ngân hàng vẫn chưa thu hồi được vốn vay. - Rủi ro do mất khả năng chi trả: Là rủi ro xảy ra trong trường hợp doanh nghiệp đi vay mất khả năng trả nợ, ngân hàng phải thanh lý TSĐB của doanh nghiệp để thu nợ.
-RRTD không giới hạn ở hoạt động cho vay: Bao gồm các hoạt động khác mang tính chất tín dụng của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ… 1. Nguyên nhân rủi ro tín dụng: Nguyên nhân gây ra RRTD tương đối đa dạng và phức tạp, bao gồm 3 nhóm nguyên nhân: nguyên nhân từ môi trường bên ngoài, nguyên nhân từ khách hàng và nguyên nhân từ ngân hàng. ➢ Nguyên nhân từ môi trường bên ngoài 11 Hoạt động kinh doanh ngân hàng luôn nằm trong một môi trường nhất định. Khi những biến số trong môi trường thay đổi có thể là nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng.
Môi trường bên ngoài bao gồm: Môi trường kinh tế, Môi trường chính trị, xã hội, pháp luật, môi trường tự nhiên.Khi môi trường bên ngoài có sự biến động, ví dụ; sự biến động của nền kinh tế vĩ mô (biến động tỷ giá, lạm phát, lãi suất…), sự thay đổi môi trường pháp luật (thay đổi cơ chế, chính sách, qui định pháp luật của nhà nước), sự thay đổi quan điểm của hệ thống chính trị hoặc sự thay đổi của môi trường tự nhiên…đều có thể tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên hoạt động sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, đến hoạt động tích lũy và tiêu dùng của dân cư. Môi trường bên ngoài có nhiều biến động, bất ổn sẽ gây khó khăn trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, cá nhân, từ đó giảm khả năng tích lũy, gây khó khăn về tài chính cho các doanh nghiệp, giảm thu nhập cá nhân. Trong trường hợp các doanh nghiệp, cá nhân có quan hệ tín dụng với NHTM, khả năng trả nợ sẽ giảm sút, dễ phát sinh RRTD. Nguyên nhân gây RRTD từ môi trường bên ngoài mang tính chất bất khả kháng, NHTM thường khó hoặc không thể kiểm soát được mà chỉ có thể dự báo và thực hiện dự phòng sự biến động.
➢ Nguyên nhân từ khách hàng Khách hàng là đối tượng có nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ theo cam kết. Trong trường hợp năng lực quản lý điều hành nói chung, khả năng quản lý và sử dụng vốn nói riêng của khách hàng yếu kém sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, thua lỗ, không tạo ra nguồn thu để trả nợ ngân hàng, từ đó gây ra RRTD. Hoặc trong một số trường hợp khách hàng có ý định lừa đảo: sử dụng các thông tin không trung thực khi lập hồ sơ vay vốn, sử dụng vốn sai mục đích, cố tình chiếm dụng vốn ngân hàng, không có thiện chí trả nợ. Trong những trường hợp này, nếu ngân hàng không thẩm định chặt chẽ trước, trong và sau khi cho vay, không phát hiện kịp thời mà vẫn cấp tín dụng cho khách hàng thì hậu quả tất yếu là phát sinh RRTD, không thể thu hồi nợ gốc và lãi.
➢ Nguyên nhân từ ngân hàng Tập trung tín dụng 12 Trong hoạt động của ngân hàng do những lý do nhất định nào đó, có thể ngân hàng quá tập trung tín dụng vào một khách hàng (hoặc một nhóm khách hàng), tập trung vào một ngành nghề, một lĩnh vực hoặc một khu vực địa lý…Khi các đối tượng, các lĩnh vực, ngành nghề có mức độ tập trung tín dụng cao có biến động có thể là nguyên nhân gây ra RRTD cho ngân hàng. Qui trình cấp tín dụng chưa phù hợp hoặc hạ thấp điều kiện vay vốn Qui trình cấp tín dụng chưa phù hợp, các bước trong qui trình chưa thực sự chặt chẽ sẽ tạo ra các kẽ hở, lỗ hổng để khách hàng có thể lách luật, thiếu trung thực là nguyên nhân gây ra RRTD. Bên cạnh đó, trong những trường hợp nhất định ngân hàng hạ thấp các điều kiện vay vốn cũng có thể là nguyên nhân phát sinh và làm trầm trọng thêm RRTD.