Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Ở chương này, tác giả giới thiệu về lý do tiến hành nghiên cứu của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, cũng như đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Tổng quan lý luận Ở chương này tác giả giới thiệu cơ sở lý thuyết của đề tài, phân tích các đề tài các mô hình nghiên cứu trước đó và xác định các yếu tố ảnh hưởng và đề xuất mô hình cho nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 4 Tác giả giới thiệu phương pháp nghiên cứu được sử dụng để thực hiện nghiên cứu. Xây dựng thang đo và giả thuyết cho mô hình nghiên cứu, xác định mẫu nghiên cứu và các phương pháp phân tích dữ liệu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này, tác giả tổng kết kết quả như thực trạng hoạt động tiền gửi của khách hàng cá nhân trong thời gian qua tại sacombank CN Thủ Đức, mô tả đặc điểm của đối tượng khảo sát, kiểm định thang đo, Phân tích EFA, phân tích hồi quy và kiểm các giả thuyết đưa ra của mô hình. Chương 5: Kết luận và đề xuất hàm ý quản trị Tác giả trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu đã đạt được, hàm ý quản trị cũng như các hạn chế của đề tài. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ LUẬN 2. Tổng quan về ngân hàng và hoạt động huy động vốn 2.
Tổng quan về Ngân hàng Theo Bank wiki Ngân hàng là một tổ chức tài chính nhận tiền gửi và chuyển những khoản tiền gửi đó vào hoạt động cho vay một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thị trường vốn. Do ảnh hưởng của chúng trong hệ thống tài chính và nền kinh tế, các ngân hàng được pháp luật của mỗi quốc gia quy định chặt chẽ để ngăn chặn họ thực hiện bất kỳ hành vi thao túng nền kinh tế của quốc gia đó. Hầu hết các ngân hàng ngày nay hoạt động theo một hệ thống được gọi là ngân hàng dự trữ phân đoạn. Theo hệ thống này, các ngân hàng chỉ nắm giữ một lượng tiền gửi dự trữ nhỏ (hoặc thậm chí rất nhỏ).
Phần còn lại họ cho vay để kiếm lời. Điều này thường tuân theo các yêu cầu về vốn tối thiểu dựa trên một bộ tiêu chuẩn vốn, được gọi là Hiệp ước vốn Basel. Theo Luật các pháp luật của Việt Nam hiện hành thì có thể hiểu Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện các hoạt động mà pháp luật cho phép như: nhận tiền gửi; phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài; cấp tín dụng; mở tài khoản cung cấp các phương tiện, dịch vụ thanh toán… (Luật số:47/2010/QH12). Bên cạnh đó pháp luật Việt Nam cũng cho phép NHTM cũng quy định chi tiết về các hoạt động kinh doanh khác để mang lại lợi nhuận.
Tổng quan về hoạt động huy động vốn của ngân hàng 2. Hoạt động huy động vốn Có thể hiểu Huy động vốn là hoạt động nhằm tạo nên nguồn vốn của mình thông qua việc NH nhận các tài sản có giá từ các cá nhân và tổ chức (The bank, 2022). Dựa vào nội dung trên chúng ta có thể hiểu khi ngân hàng huy động vốn thì ngân hàng đóng vai trò là người có quyền sử dụng tạm thời các tài sản này đồng thời chi phí cho quyền sử dụng tài sản này chính là khoản lãi xuất phải trả cá nhân, tổ chức gửi tài sản, đồng thời quyền sử dụng tài sản tạm thời cũng chỉ có một thời hạn nhất định. 6 Bên cạnh đó Nguyễn (2019) cho biết: Hoạt động huy động vốn đối với khách hàng cá nhân là việc NH nhận tiền của khách hàng dưới các hình thức như nhận tiền gửi có hoặc không kỳ hạn, tiền tiết kiệm hoặc phát hành chứng chỉ tiền gửi và một số hình thức khác có trả lãi và hoàn tiền gốc đầy đủ cho khách hàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có yêu cầu.
Vai trò của hoạt động huy động vốn Huy động tiền gửi được coi là một trong những chức năng quan trọng của ngân hàng thương mại không chỉ ở Việt Nam mà còn đối với các nước khác trên toàn cầu. Nó là một nguồn quan trọng của nguồn vốn Ngân hàng và đã được các học giả như Jhingan (2001), Uremadu (2002), Bakare (2011), Orji và cộng sự. (2020) và các học giả khác chứng minh là một yếu tố không thể thiếu để tăng nguồn vốn giúp ngân hàng hoạt động hiệu quả. Thực tế cho thấy, quy mô của nguồn vốn mà ngân hàng huy động được có ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô hoạt động cũng như quy mô cấp tín dụng của các NHTM.
Quy mô của nguồn vốn huy động cũng được cho là ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thanh toán, kiển soát rủi ro thanh khoản từ đó ảnh hưởng đến uy tín của NH. Một số hình thức huy động vốn từ khách hàng cá nhân Để có thể thu hút được khách hàng gửi tiền đặc biệt là khách hàng cá nhân, hiện nay các ngân hàng đã đưa ra nhiều sản phẩm, nhiều hình thức gửi tiền khác nhau, rất đa dạng và linh hoạt nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng, có thể kể đến một số các sản phẩm sau: Thứ nhất, hình thức tiền gửi không kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn là một sản phẩm của ngân NH với mục đích để khách hàng cá nhân gửi tiền vào ngân hàng khi có nhu cầu giao dịch, hoặc thực hiện yêu cầu NH làm dịch vụ thu hộ và chi hộ. 7 Đối với tiền gửi không kỳ hạn thì người gửi tiền có thể thực hiện rút tiền khỏi ngân hàng bất cứ khi nào có nhu cầu, cũng như thực hiện các yêu cầu chuyển tiền và thanh toán mà không bị giới hạn bởi thời gian và số lượng. Thông thường mức độ linh hoạt của hình thức này sẽ làm cho lãi suất của nó tương đối thấp, nhưng bù lại khách hàng cũng có thể nhận được các khoản ưu đãi từ phí dịch vụ hoặc miễn phí với các dịch vụ liên quan.
Thứ 2, hình thức tiền gửi có kỳ hạn Trái ngược hoàn toàn với hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn là sản phẩm của ngân hàng giúp khách hàng có thể gửi những khoản tiền chưa sử dụng vào ngân hàng với một thời gian nhất định và nhận mức lãi suất phù hợp. Các khoản tiền huy động từ tiền gửi không kỳ hạn được xem là nguồn vốn tương đối ổn định để ngân hàng sử dụng nó cho hoạt động cấp tín dụng và mamg lại lợi nhuận cho ngân hàng. Thứ 3, hình thức tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn Đối với hình thức này nguồn tiền cũng tương tự như đối với hình thức Thứ 2, tuy nhiên tính ổn định cao hơn và mục đích chính của người gửi là mong muốn nhận được lợi nhuận thông qua lãi suất, cũng có thể coi là một kênh đầu tư sinh lời của khách hàng, đồng thời đảm bảo tính an toàn và đáp ứng nhu cầu, kế hoạch sử dụng của khách hàng. Khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng theo hình thức này thì chắc chắn họ sẽ nhận được các khoản thu nhập định kỳ từ lãi suất.
Có thể thấy đối với các hình thức gửi tiền có kỳ hạn thì mục đích cũng như mong muốn của khách hàng là khoản lãi suất nhận được. Vì vậy, mức lãi suất được xem là một vấn đề quan tâm của khách hàng khi gửi tiền. Thứ 4, hình thức tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Có thể nói đây là hình thức kết hợp giữa tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn và tiền gửi không kỳ hạn, nó vừa đáp ứng được tính linh hoạt của tiền gửi không kỳ hạn, vừa đảm bảo tính sinh lời giống tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Bên cạnh đó đây cũng là một nguồn tiền mà ngân hàng có thể sinh lời từ phí thực hiện các dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng và lợi tức từ việc sử dụng nó cho nguồn vốn để cấp tín dụng bởi vì luôn có một khoản chênh lệch giữa số lượng gửi vào và số lượng rút ra.
8 Thứ 5, hình thức phát hành chứng từ có giá Có thể hiểu đơn giản phát hành chứng từ có giá là một giấy chứng nhận về nghĩ vụ trả nợ, lãi suất, thời gian của ngân hàng để huy động vốn. Điều này đồng nghĩa với việc khi khách hàng sở hữu chứng từ có giá sẽ được nhận một khoản lãi suất phù hợp và nhận được toàn bộ số tiền khi kết thúc kỳ hạn ghi trên đó. Thông thường các chứng từ có giá thường là chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu hoặc trái phiếu. Thứ 6, Cung cấp dịch vụ ủy thác Đối với hình thức này ngân hàng sẽ nhận được những khoản tiền từ phí thực hiện các nhiệm vụ như quản lý tài sản, quản lý hoạt động tài chính.
Mức độ khoản phí thu được dựa trên quy mô các tài sản mà ngân hàng được khách hàng ủy thác. Tổng quan về hành vi người tiêu dùng và quá trình ra quyết định 2. Hành vi người tiêu dùng Việc ra quyết định của người tiêu dùng từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm. Bắt đầu từ khoảng 300 năm trước, các nhà kinh tế học đầu tiên, dẫn đầu bởi Nicholas Bernoulli, John von Neumann và Oskar Morgenstern, đã bắt đầu xem xét cơ sở ra quyết định của người tiêu dùng (Richarme.
Công việc ban đầu này tiếp cận chủ đề từ góc độ kinh tế và chỉ tập trung vào hành động mua hàng (Loudon & Della Bitta. Mô hình phổ biến nhất theo quan điểm này là Lý thuyết Tiện ích đề xuất rằng người tiêu dùng đưa ra lựa chọn dựa trên kết quả mong đợi của các quyết định của họ. Người tiêu dùng được coi là những người ra quyết định hợp lý, những người chỉ quan tâm đến lợi ích cá nhân (Schiffman và cộng sự. 2010; Zinkhan và cộng sự.
Mặc dù sự phát triển này diễn ra liên tục, nhưng chỉ kể từ những năm 1950, khái niệm về hành vi của người tiêu dùng mới phản ánh đầy đủ về quan niệm và sự phát triển của tiếp thị hiện đại, phạm vi hoạt động toàn diện hơn tác động đến quyết định của người tiêu dùng (Blackwell và cộng sự. Điều này thể hiện rõ trong các định nghĩa hiện đại về hành vi của người tiêu dùng như sau: Theo Hogg và cộng sự. (2006) cho rằng Hành vi của người tiêu dùng là việc nghiên cứu các quá trình liên quan khi các cá nhân hoặc nhóm lựa chọn, mua, sử dụng hoặc loại bỏ các sản phẩm, dịch vụ, ý tưởng hoặc kinh nghiệm để thỏa mãn nhu 9 cầu và mong muốn. Schiffman và cộng sự.