Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Lý do chọn đề tài, mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu, lược khảo các nghiên cứu ngoại văn và nội văn trước đây, những đóng góp của nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở khoa học của nghiên cứu. Đó là lý thuyết và về dịch vụ ngân hàng; đặc điểm dịch vụ nhận tiền gửi tiết kiệm; mô hình hành vi người tiêu dùng và các nhân tố tác động đến quyết định – lựa chọn ngân hàng gửi tiết kiệm… Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất mô hình và các giả thuyết nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn ngân hàng gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân gồm các nhân tố như Lãi suất tiết kiệm; Thương hiệu ngân hàng (Uy tín của ngân hàng); Nhân viên ngân hàng; Hoạt động chiêu thị; Sự tiện lợi; Ảnh hưởng của người thân quen; Chất lượng dịch vụ. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày về phương pháp nghiên cứu gồm có nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức.
Nghiên cứu chính thức thực hiện bằng phương pháp định lượng, thu thập dữ liệu từ bảng câu hỏi khảo sát 230 khách hàng đang gửi tiết kiệm tại Ngân hàng 5 Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Chi nhánh Sóc Trăng. Sử dụng phần mềm SPSS để chạy dữ liệu đưa vào phân tích ở chương 4. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này tập trung vào nội dung chính của đề tài, trình bày kết quả phân tích về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân, rút ra các nhân tố tác động đến quyết định của khách hàng cá nhân. Từ đó, đưa ra những kết luận, đánh giá trên những mẫu nghiên cứu.
Chương 5: Giải pháp và Kết luận Dựa trên các kết quả phân tích của chương 4. Từ đó, đưa ra giải pháp và kết luận 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Hành vi của người tiêu dùng 2.1 Khái niệm và mô hình của người tiêu dùng Cho đến nay, đã xuất hiện khá nhiều quan điểm về hành vi tiêu dùng. Theo Leon Schiffman, Bednall và O’cass, hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ. Theo Kotler (2001, tr.
2001), trong marketing, nhà tiếp thị nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ, cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng mua sắm sản phẩm, dịch vụ của mình. Vì thế, theo Kotler, các doanh nghiệp, các nhà tiếp thị phải hiểu được những nhu cầu và các nhân tố tác động, chi phối hành vi mua sắm của khách hàng (hình 2. Đặc điểm Kích thích Kích thích Quá trình ra Quyết định của người marketing khác quyết định người mua mua - Sản phẩm - Kinh tế - Văn hóa - Nhận thức - Chọn sản phẩm - Giá - Công nghệ - Xã hội vấn đề - Chọn nhãn hiệu - Địa điểm - Chính trị - Tâm lý - Tìm kiếm - Chọn địa lý - Chiêu thị - Văn hóa - Cá tính thông tin - Định thời gian - Đánh giá - Định số lượng - Quyết định - Hậu mãi Hình 2. Mô hình hành vi của người tiêu dùng (Nguồn: phỏng theo Kotler, 2001, tr.
220 - 229) Cũng theo Kotler (2001, tr. 220 - 229), để đi đến quyết định mua sắm, người tiêu dùng sẽ phải trải qua quá trình thông qua quyết định mua hàng bao gồm 5 giai đoạn: Nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án lựa chọn, quyết định mua và hành vi sau khi mua (hình 2. 7 Nhận biết Tìm kiếm Đánh giá Quyết định Hành vi nhu cầu thông tin lựa chọn mua khi mua Hình 2. Mô hình quá trình thông qua quyết định mua (Nguồn: phỏng theo Kotler, 2001, tr.
220 - 229) Trong đó, theo Kotler có hai nhân tố có thể xen vào trước khi người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm như sau (hình 2. Thái độ của những người khác Đánh giá Ý định Quyết định các lựa chọn mua hàng mua sắm Những nhân tố tình huống bất ngờ Hình 2. Các bước đánh giá các lựa chọn đến quyết định mua sắm (Nguồn: Kotler, 2001, tr. 225) Nhân tố thứ nhất là thái độ của người thân, bạn bè, đồng nghiệp ủng hộ, hay phản đối.
Tùy thuộc vào cường độ và chiều hướng của thái độ ủng hộ hay phản đối của những người này mà người tiêu dùng đưa ra quyết định mua sắm hay từ bỏ ý định mua sắm. Nhân tố thứ hai là những nhân tố tình huống bất ngờ. Người tiêu dùng hình thành ý định mua hàng dựa trên những cơ sở nhất định như: dự kiến về thu nhập, giá cả, lợi ích kỳ vọng,. Vì thế, khi xảy ra các tính huống làm thay đổi cơ sở dẫn đến ý định mua (chẳng hạn: nguy cơ mất việc làm, giá cả tăng cao, sản phẩm không đáp ứng kỳ vọng, vv.) thì chúng có thể làm thay đổi, thậm chí từ bỏ ý định mua sắm.
Ngoài ra, theo Kotler, quyết định mua sắm của người tiêu dùng có thể thay đổi, hoãn lại hay hủy bỏ trước những rủi ro mà khách hàng nhận thức được. Bởi vậy, tựu trung lại có thể hiểu, hành vi người tiêu dùng là những phản ứng của khách hàng dưới tác động của những kích thích bên ngoài và quá trình tâm lý bên trong diễn ra trong quá trình thông qua quyết định mua sắm hàng hóa, dịch vụ. Trong đó, quyết định mua sắm là giai đoạn cuối cùng của quá trình thông qua quyết định mua sắm. Đó là kết quả đánh giá các lựa chọn, trên cơ sở cân đối giữa nhu cầu và khả năng; giữa tổng lợi ích hay giá trị khách hàng nhận được từ sản phẩm, dịch vụ đó so với tổng chi phí mà họ 8 phải trả để có được sản phẩm, dịch vụ; đồng thời chịu sự tác động của các những người khác (người thân, bạn bè, đồng nghiệp); các tình huống bất ngờ nảy sinh và rủi ro khách hàng nhận thức được trước khi đưa ra quyết định mua sắm.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng Người mua - Người tiêu dùng sống trong một xã hội, cho nên hành vi của họ chịu ảnh hưởng của rất nhiều các nhân tố trong xã hội.
Đó là: a) Các nhân tố thuộc về văn hoá-xã hội, bao gồm : Văn hoá, Nhánh văn hoá, Địa vị xã hội. Văn hoá là một hệ thống những giá trị, niềm tin, truyền thống và các chuẩn mực hành vi được hình thành, phát triển, thừa kế qua nhiều thế hệ. Văn hóa được hấp thụ ngay trong cuộc sống gia đình, sau đó là trong trường học và trong xã hội. • Sản phẩm Các đặc tính của người mua Các phản ứng đáp • Giá cả lại của người tiêu • Phân phối dùng • Xúc tiến Lựa chọn s.phẩm Các nhân tố môi Lựa chọn nhãn hiệu trường (chính trị, Quá trình quyết sản phẩm kinh tế, văn hóa, định mua của Lựa chọn nhà kinh công nghệ, dân người tiêu dùng doanh số…) Lựa chọn số lượng sản phẩm mua Hình 2.
Mô hình chi tiết hành vi mua của người tiêu dùng (Nguồn: TS. Nguyễn Thượng Thái ) Văn hoá là nguyên nhân cơ bản, đầu tiên dẫn dắt hành vi của con người nói chung và hành vi tiêu dùng nói riêng. Đó chính là văn hoá tiêu dùng. Cách ăn mặc, tiêu dùng, sự cảm nhận giá trị của hàng hóa, sự thể hiện mình thông qua tiêu dùng.
đều chịu sự chi phối mạnh mẽ của văn hóa. Những con người có nền văn hoá khác nhau thì sẽ có hành vi tiêu dùng khác nhau. Giai tầng xã hội: Trong xã hội nào cũng tồn tại các giai tầng xã hội khác nhau (các đẳng cấp xã hội). Vậy thế nào là giai tầng xã hội? 9 Giai tầng xã hội là những nhóm người tương đối ổn định trong xã hội được xắp xếp theo thứ bậc, đẳng cấp, được đặc trưng bởi các quan điểm giá trị, lợi ích và hành vi đạo đức chung trong mỗi giai tầng.
Các doanh nghiệp cần quan tâm đến hành vi tiêu dùng trong các giai tầng, đặc biệt là đối với các hàng hoá có tính dễ phô trương như quần áo, giày dép, xe cộ, nhà cửa, hoạt động vui chơi, giả trí. Hiểu rõ hành vi tiêu dùng của các giai tầng, doanh nghiệp sẽ có cơ sở để thực hiện phương châm "Bán những thứ mà khách hàng cần". b) Các nhân tố mang tính chất cá nhân: Tuổi tác và giai đoạn trong đời sống gia đình, nghề nghiệp, tình trạng kinh tế, lối sống, cá tính. Tuổi tác và giai đoạn trong đời sống gia đình: Nhu cầu về các loại hàng hoá, dịch vụ cũng như khả năng mua của người tiêu dùng gắn liền với tuổi tác và giai đoạn trong đời sống gia đình của họ.
Nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến hành vi mua của khách hàng. Ngoài các hàng hoá liên quan trực tiếp đến hoạt động nghề nghiệp, khách hàng với nghề nghiệp khác nhau cũng tiêu dùng khác nhau. Do vậy, nhà tiếp thị cần tìm hiểu hành vi tiêu dùng của khách hàng với các nghề nghiệp khác nhau như: Công nhân, nông dân, công chức, trí thức, giới nghệ sĩ, nhà quản lý kinh doanh, nhà chính trị. Tình trạng kinh tế là điều kiện tiên quyết để người tiêu dùng có thể mua được hàng hoá, dịch vụ.
Khi ngân sách tiêu dùng càng cao thì tỷ lệ phân bố cho tiêu dùng các hàng xa xỉ càng tăng lên, tỷ lệ chi tiêu cho các hàng thiết yếu càng giảm xuống. Nói chung, vào thời kỳ kinh tế đất nước phồn thịnh, tăng trưởng thì người ta tiêu dùng nhiều hơn và ngược lại. Lối sống phác hoạ một cách rõ nét về chân dung cuả một con người. Hành vi tiêu dùng của con người thể hiện rõ rệt lối sống của anh ta.
Tất nhiên, lối sống của mỗi con người bị chi phối bởi các nhân tố chung như nhánh văn hoá, nghề nghiệp, nhóm xã hội, tình trạng kinh tế và hoàn cảnh gia đình. Nhưng lối sống của mỗi người mang sắc thái riêng. Mặc dù lối sống là một đặc trưng không được lượng hoá, nhưng các nhà tiếp thị dùng nó để định vị sản phẩm. Đó là "Định vị sản phẩm thông qua các hình ảnh về khách hàng".