Chương 1: Tổng quan về huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM, các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm và mô hình nghiên cứu. 4 Chương 2: Thực trạng gửi tiền tiết kiệm của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương chi nhánh Tân Bình và đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương chi nhánh Tân Bình. Chương 3: Giải pháp thu hút khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn Công Thương chi nhánh Tân Bình 5 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NHTM, CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH GỬI TIỀN TIẾT KIỆM VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của NHTM 1.1 Khái niệm Theo Quyết định số 1160/2004/QĐ-NHNN thì “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”. Tiền gửi tiết kiệm (TGTK) là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng cho tiêu dùng.
Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt để tích lũy tiền tệ trong lĩnh vực tiêu dùng trong cá nhân. Khi gửi tiền vào ngân hàng, người gửi tiền được nhận một sổ tiết kiệm coi như giấy chứng nhận gửi tiền vào ngân hàng được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Đến thời hạn, khách hàng rút tiền và nhận được một khoản tiền lãi trên sổ tiết kiệm.
Hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tiết kiệm có sổ, người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một quyển sổ dùng để theo dõi tiền gửi vào và rút ra, đồng thời quyển sổ này cũng chứng nhận số tiền đã gửi. Quyển sổ này có thể đem cầm cố hoặc thế chấp vay vốn. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là sản phẩm gửi tiền phục vụ chủ yếu cho khách hàng là dân cư, cá nhân là người Việt Nam hay người nước ngoài đang định cư tại lãnh thổ Việt Nam. Mục đích tiền gửi tiết kiệm là để hưởng lãi, thuận tiện sử dụng các dịch vụ của ngân hàng như thanh toán, chuyển tiền.
6 Tiền gửi tiết kiệm có tính ổn định cao vì tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn chiếm tỷ trọng cao hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.2 Phân loại Từ lâu tiền gửi tiết kiệm là công cụ huy động vốn truyền thống của NHTM. Vốn huy động từ các tài khoản tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng đáng kể trong tiền gửi của NHTM. Tiền gửi tiết kiệm bao gồm nhiều loại khác nhau, căn cứ vào các tiêu thức phân loại chủ yếu sau đây: 1.1 Theo kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là một sản phẩm mà ngân hàng cung ứng để giúp khách hàng có tiền nhàn rỗi muốn gửi vào ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lời nhưng không thiết lập được mục tiêu sử dụng trong tương lai.
Khi mở tài khoản này khách hàng có thể gửi tiền và rút tiền ra bất cứ lúc nào. Các giao dịch này không thường xuyên, chủ yếu là giao dịch gửi tiền và rút tiền trực tiếp. Do tính chất không ổn định nên lãi suất của tiền gửi tiết kiệm này rất thấp. Khi gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn khách hàng sẽ được ngân hàng cấp một sổ tiền gửi tiết kiệm.
Sổ tiền gửi này sẽ phản ánh tất cả các giao dịch gửi tiền, rút tiền, số dư hiện có, tiền lãi được hưởng hoặc khách hàng được cấp một báo cáo tài khoản sau mỗi một giao dịch. Mỗi lần giao dịch, khách hàng phải xuất trình sổ tiết kiệm và chỉ có thể thực hiện được các giao dịch ngân quỹ như gửi tiền và rút tiền, chứ không thể thực hiện được giao dịch thanh toán như trong trường hợp tiền gửi thanh toán. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 7 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Đây là khoản tiền tích lũy có tính chất như tiền gửi có kỳ hạn thông thường.
Khách hàng gửi vì mục tiêu an toàn và sinh lời. Chủ yếu là những cá nhân có thu nhập ổn định và thường xuyên, thường là công chức, viên chức hoặc người đã nghỉ hưu. Do vậy, lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút đối tượng khách hàng này. Khi gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn khách hàng cũng được giao giữ một sổ tiết kiệm.
Các hình thức thường thấy là: Chứng chỉ tiền gửi tiết kiệm, tiết kiệm nhà ở, tiết kiệm dự thưởng,… Kỳ hạn tiền gửi tiết kiệm của NHTM rất đa dạng, bao gồm nhiều mức kỳ hạn khác nhau như: kỳ hạn theo tháng 1, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng,…và được trả lãi đầu kỳ, cuối kỳ, trả lãi hàng tháng.2 Theo loại tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm bằng nội tệ Là loại tiền gửi tiết kiệm bằng tiền Việt Nam Đồng gửi vào Ngân hàng và hưởng lãi suất tiền Việt Nam được quy định tại thời điểm gửi tiền. Đây là loại chiếm tỷ trọng chủ yếu của vốn tiền gửi tiết kiệm của các NHTM ở Việt Nam. Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ Là loại tiền gửi tiết kiệm bằng Ngoại tệ gửi vào Ngân hàng và hưởng lãi suất ngoại tệ gửi. Các loại ngoại tệ như chủ yếu được huy động như: USD, EUR,.3 Theo phương thức trả gốc và lãi Tiết kiệm trả lãi sau: là hình thức tiết kiệm trả lãi khi đến hạn.
Vào thời điểm đó nếu khách hàng không đến rút vốn và lãi thì tiền lãi được nhập vào vốn và được tái tục thêm một kỳ hạn Tiết kiệm lãi trả trước: là hình thức tiết kiệm trả lãi ngay khi KH gửi tiền. Khi đến hạn KH sẽ được lĩnh phần gốc đúng như số tiền ghi trên thẻ hoặc sổ tiết kiệm. Nếu 8 khách hàng yêu cầu rút gốc trước hạn thì sẽ giải quyết theo quy định của ngân hàng Tiết kiệm trả lãi định kỳ: Là hình thức tiết kiệm trả lãi theo từng kỳ hạn mà KH và NH đã thỏa thuận. Đến kỳ tính lãi, KH có thể rút phần lãi của kỳ đã đăng ký vào bất kỳ ngày làm việc nào của NH.
Nếu KH không lĩnh lãi theo kỳ hạn đã đăng ký thì NH chỉ thực hiện sao kê tính lãi, hết kỳ tính lãi cuối cùng thì số lãi còn chưa lĩnh được nhập vào gốc 1.4 Theo phương thức nộp gốc Tiết kiệm gửi một lần: là loại hình tiết kiệm mà KH chỉ gửi tiền vào NH một lần cho đến lúc đáo hạn. Với hình thức này NH không tốn nhiều chi phí quản lý do số dư tài khoản của KH không biến động. Chính vì vậy mức lãi suất của loại tiền gửi này cao. Tiết kiệm gửi nhiều lần: tiết kiệm gửi góp là hình thức tiết kiệm mà định kỳ đã đăng ký với NH, KH gửi vào NH một số tiền, số tiền gửi từng lần có thể cố định hoặc thay đổi theo khả năng của khách hàng.
Lãi suất của loại tiền này thấp hơn lãi suất tiết kiệm thông thường.3 Ý nghĩa của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1.1 Ý nghĩa của hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm Đứng trên giác độ vĩ mô nền kinh tế thì vai trò to lớn của hoạt động huy động vốn của NHTM là nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn vốn trong nền kinh tế thông qua hoạt động huy động tập trung các nguồn vốn nhỏ, lẻ, nhàn rỗi hoặc tạm thời nhàn rỗi, hoạt động chưa hiệu quả thành các nguồn vốn có quy mô lớn, đáp ứng các yêu cầu về sử dụng vốn của các chủ thể có dự án hoặc kế hoạch sử dụng vốn với hiệu quả kinh tế cao hơn. Thực hiện nghiệp vụ huy động vốn nói chung và hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng kết hợp với phân bổ các nguồn vốn cho nền kinh tế. NHTM đảm bảo hiệu quả hoạt động của nền kinh tế đồng thời giảm thiểu chi phí. Mức độ giảm thiểu chi phí có thể thấy được khi chúng ta tưởng tượng điều gì sẽ xảy ra trong hoạt động vay mượn khi thiếu đi sự có mặt của NHTM nói riêng và các trung gian tài chính 9 nói chung: Người cho vay sẽ phải tìm gặp những người đi vay có nhu cầu vốn phù hợp với nguồn vốn của mình, sau đó phải mất công thẩm định độ tin cậy đối với người vay.
Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của vùng, ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.2 Vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM NHTM là trung gian tài chính với chức năng cơ bản là đi vay để cho vay. Dù dưới bất kỳ hình thức nào các NHTM luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu. Để đạt được điều đó, công cụ cần thiết mà các ngân hàng phải có là vốn. Tuy nhiên một ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ của nó hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay.
Ngược lại, một ngân hàng với nguồn vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn tự quyết trong hoạt động kinh doanh của mình, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Nguồn vốn huy động dồi dào cũng giúp ngân hàng đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro và thu được lợi nhuận cao vì mục tiêu an toàn và hiệu quả. Vậy vốn là cơ sở để ngân hàng tạo ra thế chủ động trong kinh doanh. Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.
Đối với ngân hàng, vốn là cơ sở để NHTM tổ chức mọi hoạt động kinh doanh.