Đặt vấn đề Sau cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008 đến nay, thế giới đã và đang trải qua một giai đoạn khó khăn về kinh tế lẫn tài chính. Hàng loạt các công ty, ngân hàng giải thể hoặc phá sản hoặc cơ cấu lại, một số nƣớc trên thế giới lâm vào tình trạng nợ công tăng cao dẫn đến suy thoái nhƣ Hy Lạp, Tây Ban Nha… Tình hình xấu về kinh tế thế giới cũng ảnh hƣởng một phần nào đến tình hình kinh tế Việt Nam. Năm 2011, nghị định 11 ngày 24 tháng 02 năm 2011 do Chính phủ ký quyết định để điều chỉnh hoạt động hƣớng nền kinh tế phát triển bền vững hơn. Mặc dù vậy, với sức ỳ nền kinh tế và độ cộng hƣởng suy thoái kinh tế những năm trƣớc vẫn còn dẫn đến lạm phát vẫn còn cao tới 18% (Số liệu Tổng cục Thống kê năm 2011), thị trƣờng bất động sản đóng băng và giá vàng tăng liên tục, thị trƣờng chứng khoán không khởi sắc khiến cho các kênh đầu tƣ của các nhà đầu tƣ dần dần kém hấp dẫn.
Năm 2012, mặc dù tình hình lạm phát giảm xuống còn 6,81% (Số liệu tổng cục Thống kê năm 2012) nhƣng tình hình kinh tế Việt Nam có dấu hiệu không mấy khởi sắc hơn khi các chỉ số quan trọng có xu hƣớng không nhƣ mọng đợi giá vàng vẫn cao hơn so với thế giới, mức sống của ngƣời dân không mấy cải thiện, thông tin nợ xấu ngân hàng, hình ảnh các cá nhân có liên quan đến ngân hàng lần lƣợt bị điều tra. Trong điều kiện kinh tế hiện nay, các ngân hàng thƣơng mại sẽ có nhiều khó khăn trong vấn đề huy động vốn, đặc biệt là dòng vốn trung và dài hạn. Vấn đề đặt ra, khi ngân hàng Nhà nƣớc áp dụng trần lãi suất huy động đối với tiền gửi tiết kiệm dẫn đến hầu nhƣ lãi suất huy động các ngân hàng thƣơng mại ở các kỳ hạn gần nhƣ hoàn toàn giống nhau, do đó làm thế nào để ngân hàng có thể huy động đƣợc vốn nhiều hơn từ lƣợng khách hàng sẵn có và phát triển mới, bởi vì thị trƣờng ngày nay luôn luôn diễn ra sự cạnh trang gay gắt, căng thẳng giữa các ngân hàng thƣơng mại với ngân hàng thƣơng mại quốc doanh và ngân hàng có yếu tố nƣớc ngoài. Ngoài ra, thị hiếu ngƣời tiêu dùng ngày càng cao đòi hỏi vai trò lãnh đạo của bộ máy điều hành ngân hàng càng phải thể hiện mình hơn nữa để tìm hiểu thị trƣờng, đặc biệt thị trƣờng khách hàng cá nhân, những đối tƣợng mà lâu nay ngân hàng thƣơng mại bỏ quên.
Các nhà quản trị phải biết đƣợc xu thế lựa chọn sản phẩm của khách hàng để kịp thời đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng. Xuất phát từ nhận thức vấn đề nêu ra ở trên và sự tƣ vấn của giáo viên hƣớng dẫn, tôi quyết định chọn đề tài: “Đánh giá chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á”. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích đƣợc các nhân tố đánh giá chất lƣợng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á hiện nay, nhằm đƣa ra giải pháp hỗ trợ các ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng mong muốn, trên cơ sở đó mở rộng đƣợc thị phần trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt hiện nay. Những mục tiêu cụ thể cần đạt đƣợc trong bài nghiên cứu: Thứ nhất, phân tích đƣợc thực trạng huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á hiện nay Thứ hai, nhận dạng đƣợc các yếu tố ảnh hƣởng đến chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á Thứ ba, đo lƣờng mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố dịch vụ tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á đối với khách hàng Qua đó, luận văn đề ra một số giải pháp nhằm phát huy những yếu tố mà khách hàng cá nhân đƣợc cho là quan trọng để gia tăng thị phần của ngân hàng.
Phạm vi nghiên cứu Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vào một số chi nhánh, phòng giao dịch của ngân hàng Đông Á thuộc một số tỉnh thành cả nƣớc có số lƣợng dân cƣ đông, đặc biệt chủ yếu tại địa bàn TPHCM bằng phƣơng pháp thu thập trực tiếp và thu thập gián tiếp thông qua internet và và email. Ngoài ra, tác giả chỉ thu thập ý kiến của các khách hàng đã gửi tiết kiệm tại các ngân hàng TMCP trong thời gian từ tháng 01/20111 đến 08/2013. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu đƣợc tiến hành thông qua hai bƣớc chính: nghiên cứu sơ bộ thông qua phƣơng pháp định tính và nghiên cứu chính thức thông qua câu hỏi định lƣợng Nghiên cứu sơ bộ thông qua phƣơng pháp định tính bằng thảo luận nhóm và phỏng vấn thử. Mục đích của nghiên cứu này dùng để điều chỉnh các nhân tố ảnh hƣởng đến đánh giá chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Đông Á.
Nghiên cứu chính thức đƣợc thực hiện bằng phƣơng pháp định lƣợng, bằng phƣơng pháp hỏi các đáp viên đã có thực hiện giao dịch với một tại một số chi nhánh và phòng giao dịch của Ngân hàng Đông Á Thông tin thu thập đƣợc xử lý bằng phần mềm SPSS, áp dụng các phƣơng pháp phân tích hệ số Cronbach alpha và phân tích nhân tố EFA, phƣơng pháp kiểm định ANOVA để làm rõ hơn các yếu tố ảnh hƣởng đến đánh giá chất lƣợng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng TMCP Đông Á. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài Đề tài này giúp ngƣời sử dụng biết đƣợc tổng thể về thị trƣờng tiền gửi hiện nay của ngân hàng thƣơng mại cổ phần Đông Á. Từ đó, họ có thể hình dung một phần bức tranh về thị trƣờng tiền gửi của các ngân hàng thƣơng mại hiện nay. Bên cạnh đó, đề tài này cung cấp đƣợc cho ngƣời sử biết đƣợc các yếu tố chính đánh giá chất lƣợng dịch vụ tiền gửi tiết kiệm tại NHTM.
Để tài này giúp cho các NHTM xây dựng chiến lƣợc sản phẩm để đáp ứng đƣợc nhu cầu của khách hàng cá nhân cũng đồng thời phát triển khách hàng cá nhân mới nhằm nâng cao thị phần tiền gửi tiết kiệm của mình. Ngoài ra, đề tài này hình thành nền tảng ban đầu cho các NHTM các nghiên cứu tiếp theo khi nghiên cứu khách hàng gửi tiền là khách hàng doanh nghiệp, tổ chức. Cuối cùng, đề tài này cũng có thể dùng cho một số ngân hàng thƣơng mại quốc doanh và ngân hàng có yếu tố nƣớc ngoài. 1 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về tiền gửi tiết kiệm 1.1 Khái niệm tiền gửi tiết kiệm Theo Benton E.Gup và Jame W.
Kolari, 2005, tiền gửi tiết kiệm là một khoản triền mà khách hàng gửi vào ngân hàng để hƣởng một mức lãi suất cố định trong một thời gian cố định. Theo Trần Huy Hoàng, 2012, tiền gửi tiết kiệm là tiền gửi của các tầng lớp dân cƣ, ngƣời gửi tiền gửi vào ngân hàng nhằm mục đích để dành, sinh lời và an toàn tài sản. Theo định nghĩa tại Điều 6 Quy chế về tiền gửi tiết kiệm số 1160/2004/QĐ- NHNN, tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân đƣợc gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, đƣợc xác nhận trên thẻ tiết kiệm, đƣợc hƣởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và đƣợc bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Bản chất của tiền gửi tiết kiệm là một khoản đầu tƣ ngày hôm nay để có đƣợc một khoản tiền lớn hơn trong tƣơng lai (bao gồm phần gốc là số tiền gửi ban đầu và khoản tiền lãi).
Tiền gửi tiết kiệm có đặc điểm: tích lũy các khoản tiền nhàn rỗi, kênh đầu tƣ an toàn tài sản, sinh lợi 1.2 Phân loại tiền gửi tiết kiệm Căn cứ vào tính chất thời hạn: đƣợc chia thành hai loại Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: là khoản tiền gửi tiết kiệm không thoả thuận trƣớc với ngân hàng về thời điểm rút tiền cụ thể. Ngân hàng sẽ thanh toán tiền lãi cho khách hàng theo định kỳ hàng tháng hoặc vào ngày rút hết số dƣ và tiền lãi đƣợc tính theo số tiền gửi thực tế của khách hàng, bao gồm: - Tiết kiệm không kỳ hạn bằng đồng Việt Nam - Tiết kiệm không kỳ hạn bằng ngoại tệ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: là khoản tiền gửi tiết kiệm mà thời điểm rút tiền đƣợc xác định trƣớc dựa trên 2 yếu tố: ngày gửi và kỳ hạn. Khách hàng chỉ đƣợc rút 2 tiền khi đến hạn thanh toán. Tiền lãi đƣợc thanh toán định kỳ hàng tháng theo hoặc thanh toán 1 lần vào thời điểm đáo hạn cùng với vốn gốc, bao gồm Căn cứ vào loại tiền: đƣợc chia thành hai loại - Tiền gửi tiết kiệm bằng VND - Tiền gửi tiết kiệm bằng ngoại tệ Căn cứ vào kỳ hạn: đƣợc chia thành ba loại - Tiền gửi tiết kiệm ngắn hạn là những khoản tiền gửi từ ngày phát sinh đến ngày đáo hạn dƣới một năm - Tiền gửi tiết kiệm trung hạn là những khoản tiền gửi từ ngày phát sinh đến ngày đáo hạn từ một đến năm năm - Tiền gửi tiết kiệm dài hạn là những khoản tiền gửi từ ngày phát sinh đến ngày đáo hạn từ năm năm trở lên Căn cứ vào phƣơng thức trả lãi: đƣợc chia thành ba loại - Tiền gửi tiết kiệm trả lãi trƣớc - Tiền gửi tiết kiệm trả lãi định kỳ - Tiền gửi tiết kiệm trả lãi cuối kỳ 1.3 Vai trò tiền gửi tiết kiệm đối với ngân hàng thƣơng mại Tiền gửi tiết kiệm đóng góp phần lớn trong cơ cấu nguồn vốn để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh Trong nền kinh tế thị trƣờng, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh doanh cũng cần có vốn, vốn quyết định đến khả năng kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với ngân hàng thƣơng mại vốn là đối tƣợng kinh doanh chủ yếu, đặc biệt nguồn vốn tiền gửi tiết kiệm vì có tính chất ổn định và thời gian có thể kéo dài. Nếu thiếu vốn, ngân hàng thƣơng mại không thể thực hiện các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là kinh doanh tín dụng. Vì thế những ngân hàng có nguồn vốn lớn sẽ có thế mạnh cạnh tranh trong kinh doanh. Vốn là điểm xuất phát đầu tiên trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.