CHƯƠNG 1 TONG QUAN NGHIÊN CUU VA CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VE SỰ HAI LONG CUA KHACH HANG DOI VOI DICH VU NGAN HANG DIEN TU 1. Tổng quan tinh hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu nước ngoài. Có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng điện tử thời gian qua.
Tuy nhiên, mỗi tác giả lại tiếp cận một cách khác nhau. Thông thường, các nhà nghiên cứu đều cho rằng các yếu tố hình thành nên chất lượng dịch vụ tác động tới sự hài lòng của khách hàng. Điển hình là: Jamil Hammoud, Rima M. Bizri, Ibrahim El Baba (2018) trong bài tạp chí “The Impact of E-Banking Service Quality on Customer Satisfaction: Evidence From the Lebanese Banking Sector” đã xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố cầu thành chất lượng dich vụ Ngân hàng điện tử và sự hài lòng của khách hàng dé xác định yếu tố nào có thể có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của khách hàng.
Dữ liệu được thu thập bằng cách khảo sát các khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử ở Lebanon. Kết quả nghiên cứu cho thấy độ tin cậy, hiệu quả và dé sử dụng: khả năng đáp ứng và giao tiếp; và bảo mật và quyền riêng tư đều có tác động đáng kể đến sự hài lòng của khách hang, trong đó độ tin cậy là yếu tố tác động mạnh nhất. Tác giả còn khang định: dich vụ ngân hàng điện tử đã trở thành một trong những dịch vụ ngân hàng thiết yếu, nếu được triển khai đúng cách, có thể làm tăng sự hài lòng của khách hàng và tạo cho ngân hàng một lợi thế cạnh tranh. Biết được tầm quan trọng tương đối của các khía cạnh chất lượng dịch vụ có thể giúp ngành ngân hàng tập trung vào những gì làm hài lòng khách hàng nhát.
Tương tự, Malik G. (2017) trong bai “Analyzing the impact of elevated service quality in online banking services on customer satisfaction” cho rang các yG. (201 khach hang ngay chang beroi M.K vu ngân hàng điện tử. Sgay chànô hình SERVQUAL, các tac gIUAđã do luc giUALi M.K vla tính h giUALi M.K vụ ngân hàng điện tử.
lyzing the impact of elevated sda tính h gIUALI M.K vụ ngân hàng dsa đà tính h gIUALI M. Nghiên ch giUALi M.K vụ ngân hàng điện tử.đã khn ch gIUALI M.K vụ ngân hàng điện tử. lyzing the i Tuy nhiên, cũng có những quan điểm khác về các yếu tố tác động tới sự hài lòng của khách hàng. Feng Lia, Hui Lua, Meigian Houa, Kangle Cuia, Mehdi Darbandib (2021), trong “Customer satisfaction with bank services: The role of cloud services, security, e-learning and service quality” đã khang định các dịch vụ ngân hang điện tử chính là công cụ quan trong dé đáp ứng yêu cầu của khách hàng hiện nay bởi nó cung cấp dịch vụ nhanh hơn và đáng tin cậy hơn cho khách hàng.
Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp mô hình hóa phương trình cấu trúc để đánh giá mô hình nhân quả với tính hợp lệ và độ tin cậy của mô hình đo lường. Kết quả đã chỉ ra rằng dịch vụ đám mây, bảo mật, e-learning và chất lượng dịch vụ là bốn yếu tố ảnh hưởng quan trọng đến sự hài lòng của khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ Internet banking. Đặc biệt, còn có nghiên cứu tông quan của tác giả Iddris F. Bằng việc tổng quan 44 bài báo nghiên cứu được công bố về mức độ hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng điện tử trong khoảng thời gian từ 2008 đến 2017, các tác giả cho rằng các quốc gia châu Á có số lượng nghiên cứu nhiều nhất.
Trong khi đó, không có bài nghiên cứu nào từ một số quốc gia Châu Âu như Thụy Điển, Hà Lan, Đức, Bi, Dan Mạch và Na Uy. Ngoài ra, có một số nghiên cứu hạn chế được xác định từ Trung Đông. Và ngay cả những quốc gia có hệ thống thương mại điện tử phát triển từ Trung Đông và Châu Phi như Ai Cập. Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Lebanon, Israel, Nam Phi cũng không có bài báo nào được công bố.
bên cạnh đó, mô hình SERVEQUAL là khung lý thuyết chính được sử dụng trong các nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố dự đoán chính về sự hài lòng trong Internet banking là chất lượng dịch vụ, chất lượng thông tin và chất lượng sản phẩm. Cuối cùng, nghiên cứu này đã xác nhận vai trò trung gian của sự hài lòng của khách hàng đối với lòng trung thành của khách hàng đối với những dịch vụ ngân hàng điện tử. Tổng quan tinh Hình nghién CỨU trong Hước Cac nha nghiên cứu ở Việt Nam thường tập trung nghiên cứu sự hai lòng của khách hàng về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử.
Những tác phẩm điển hình như: Dau Thị Hằng Nga (2015) đã thực hiện luận văn “Đánh gia sự hai lòng của khách hàng cá nhân về chất lượng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Á Châu, Chi nhánh Huế”. Trong đó, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa chất lượng dich vụ NHDT với sự hài lòng của khách hàng. Dựa vào mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ SERVPERF kết hợp với mô hình GRONROOS, tác gia đã xây dựng mô hình đánh giá sự hài lòng của khách hàng bởi 2 nhóm biến độc lập. Nhóm thứ nhất gồm: sự tin cậy, đáp ứng, năng lực phục vụ, đồng cảm, phương tiện hữu hình và nhóm thứ hai gồm: chất lượng chức năng, chất lượng kỹ thuật.
Với việc khảo sát sự đánh giá của khách hàng đối với dịch vụ NHĐT tại Ngân hàng A Chau, chi nhánh Huế, tác giả đã chỉ ra mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ NHĐT và sự hài lòng của khách hàng một cách cụ thể. Tương tự, Võ Quốc Dũng (2019) cũng nghiên cứu mức độ hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dich vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hang Thương mại cé phần Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Trà Vinh. Thông qua việc khảo sát 290 khách hàng sử dụng dich vụ ngân hàng điện tử tại Vietcombank Tra Vinh, tác giả đã phân tích định lượng dé chỉ ra rằng: có 6 yếu tô độc lập ảnh hưởng cùng chiều đến sự hài lòng của khách hàng với dịch vụ ngân hàng điện tử của Vietcombank Trà Vinh, bao gồm: Sự tin cậy, Khả năng đáp ứng, Hiệu quả, khả năng sẵn sàng của hệ thống, Sự phản hồi, Bảo mật. Trong đó Hiệu quả có ảnh hưởng nhiều nhất.
Mô hình góp phần giải thích 63. Cho dù không đặt nghiên cứu ở giới hạn cụ thê như vậy thì các nghiên cứu về sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng điện tử của các tác giả khác vẫn lấy mô hình SERVQUAL làm cơ sở lý luận. Chử Bá Quyết, Trần Thị Việt Anh (2017) đã “nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Maritime Bank theo mô hình SERVQUAL”. Mô hình mà các tác giả xây dựng gồm có 6 biến độc lập là: sự tin cậy, khả năng đáp ứng.
năng lực phục vụ, phương tiện hữu hình, sự đồng cảm và sự an toàn dé đánh giá sự hài lòng của khách hang. Với 260 phiếu khảo sát, các tác giả đã chỉ ra chỉ có năng lực phục vụ, sự đồng cảm, phương tiện hữu hình, tính an toàn bảo mật là tác động tới sự hài lòng của khách hàng. Từ đó đưa ra các khuyến nghị phù hợp đề nâng cao sự hài lòng của khách hàng. Nguyễn Đăng Bửu Trâm (2018) trong luận văn thạc sĩ “Đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam” đã đưa ra một cái nhìn khái quát về các nhân tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần BIDV ở TP.HCM, góp phần giúp các nhà quản trị hiểu được vai trò, tầm quan trọng của các nhân tố đáp ứng nhu cầu khách hàng, chất lượng nhân viên, chất lượng cơ sở hạ tầng vào thực tiễn ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Ngân hàng điện tử.
Các kết quả phân tích khăng định sự đúng dan học thuyết Parasuraman & ctg (1985) phù hợp với thực trạng Ngân hàng Thương mại Cổ phần BIDV về khoảng cách giữa yêu cầu chất lượng dịch vụ và kết quả thực hiện dịch vụ, về phương tiện vật chất hữu hình, độ tin cậy, khả năng đáp ứng nhanh, năng lực phục vụ và đồng cảm với khách hàng: cũng như nghiên cứu Gronroos (1984) liên quan đến chất lượng kỹ thuật (Technical Quality) và chất lượng chức năng (Functional Quality). Khoảng trồng nghiên cứu và van đề đặt ra Dịch vụ ngân hàng điện tử mặc dù mới được cung cấp ở các ngân hàng tại Việt Nam thời gian vừa qua nhưng nó nhanh chóng trở thành sản phẩm quan trọng mà bắt kỳ ngân hàng TMCP nào cũng quan tâm và cung cấp hiện nay. Vì sự mới mẻ của các dịch vụ NHĐT mà không phải khách hàng nào cũng có thể tiếp cận. Việc nghiên cứu đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ NHĐT chưa nhiều.
Sau khi tổng quan các công trình nghiên cứu về vấn đề này, có thể thấy các công trình đã mang lại giá trị khoa học nhất định, cụ thể: Thứ nhất, nhiều tác giả khang định chất lượng dịch vụ NHDT hình thành nên sự hài lòng của khách hàng. Thứ hai, dịch vụ NHĐT hiện nay tạo nên lợi thế cạnh tranh. Khi khách hàng hài lòng thì các ngân hàng cung cấp dịch vụ NHĐT có thể nâng cao vị thế và phát triên kinh doanh. Thứ ba, phần lớn các nghiên cứu đều dựa vào mô hình SEVQUAL hoặc SERVPERF để xây dựng mô hình đánh giá sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ NHDT.
Kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố có giá trị tham khảo rất lớn cho luận văn. Tác giả có thé tổng hợp dé xây dựng cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, việc tổng quan nghiên cứu cũng cho thấy chưa có tác phẩm nào nghiên cứu ở Ngân hang Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Chi nhánh tỉnh Vĩnh Phúc. Các biến độc lập, biến quan sát trong các mô hình nghiên cứu cũng rất khác nhau, cần phải được lựa chọn cho phù hợp với nghiên cứu của đề tài.