Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ của ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng kinh doanh dịch vụ thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa – Đà Nẵng Chương 3: Khuyến nghị nhằm phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn Việt Nam - CN Đống Đa – Đà Nẵng 6. Tổng quan tình hình nghiên cứu: Trong bối cảnh kinh doanh hiện nay, có thể nói dịch vụ thẻ đã và đang đƣợc các ngân hàng thƣơng mại nhìn nhận nhƣ một mũi nhọn chiến lƣợc trong hiện đại hóa, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ ngân hàng và là một lợi thế cạnh tranh hết sức quan trọng trong cuộc đua hƣớng tới thị trƣờng ngân hàng bán lẻ. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây, với phƣơng châm “thanh toán không dùng tiền mặt”, thói quen sử dụng thẻ và các dịch vụ thẻ của ngƣời dân ngày càng trở nên phố biên trong đời sống xã hội. Nhờ đó, hoạt động kinh doanh dịch 7 vụ thẻ đang mang lại nguồn thu lớn, chiếm tỷ trong cao ở các NHTM.
Chính vì vậy, đề tài này luôn dành đƣợc sự quan tâm của nhiều tác giả nghiên cứu. Mỗi tác giả có những cách đánh giá, nhìn nhận về những khía cạnh khác nhau, về đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu khác nhau, có thể kể đến là Phan Thị Anh Thƣ (2021), Lê Thị Nhƣ Quỳnh (2021), Vũ Thị Thu Hƣơng (2019), Phạm Nguyễn Phƣơng Dung (2019), Tiêu Đoàn Việt Hà (2019), Bùi Thị Thúy (2018), … Mỗi nghiên cứu đƣợc thực hiện ở các chi nhánh ngân hàng khác nhau, ở những khoảng thời gian khác nhau. Các nghiên cứu đều chỉ ra đƣợc cơ sở lý luận về thẻ, về dịch vụ và hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ, có cách tiếp cận định tính, sử dụng các phƣơng pháp cơ bản nhƣ: tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu …để đánh giá, phân tích thực trạng ở mỗi ngân hàng, từ đó tìm ra những điểm đạt đƣợc và những tồn tại trong hoạt động kinh doanh. Từ đó, tác giả đƣợc ra các khuyến nghị trên nhiều khía cạnh của hoạt động thẻ nhƣ: Phát triển dịch vụ thẻ (Bùi Thị Thúy, 2018) hay với hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ, có thể kể đến các nghiên cứu về Hoàn thiện hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ (Vũ Thị Thu Hƣơng, 2019), (Phạm Nguyễn Phƣơng Dung, 2019), (Tiêu Đoàn Việt Hà, 2019, (Phan Thị Anh Thƣ, 2021).
Tuy nhiên, các luận văn trên vẫn còn khá nhiều khoảng trống. Ví dụ nhƣ tác giả Bùi Thị Thúy (2018) đề cập về phát triển dịch vụ thẻ, đánh giá và phân tích các yếu tố định lƣợng, thiên về các sản phẩm của chi nhánh nhƣ phát triển số lƣợng thẻ, đa dạng hóa chức năng, tiện ích dịch vụ, đa dạng hóa kênh phân phối dịch vụ thẻ, phát triển các dịch vụ gia tăng, phát triển các dịch vụ hỗ trợ khách hàng, … Đây là chỉ là một phần của nội dung phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ, bởi để phát triển kinh doanh, bên cạnh phát triển số lƣợng các sản phẩm, dịch vụ còn phải nghiên cứu sự tăng trƣởng về cơ cấu, thị phần, thu nhập từ dịch vụ thẻ, 8 kiểm soát rủi ro …. Tác giả Phạm Nguyễn Phƣơng Dung (2019) đã phân tích và đánh giá hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tại Agribank trong giai đoạn 2016 – 2018. Tuy nhiên, tác giả đã phân tích trên những số liệu trong các báo cáo tài chính của ngân hàng, không có sử dụng dữ liệu sơ cấp nhƣ phƣơng pháp khảo sát, lấy thông tin khách hàng thực tế hay phỏng vấn chuyên gia.
Và bởi vì đối tƣợng nghiên cứu quá rộng (ngân hàng Agribank nói chung) nên các khuyến nghị đều là với Agribank, với NHNN và với Chính phủ, rất chung chung, do đó không thể áp dụng các khuyến nghị đó với các chi nhánh cụ thể. Hay tác giả Phan Thị Anh Thƣ (2021) tập trung nghiên cứu về hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Quảng Nam trong 3 năm 2017 – 2019. Ở luận văn, tác giả tập trung nghiên cứu về mảng thẻ tín dụng. Với mỗi sản phẩm thẻ, ngân hàng sẽ có những biện pháp tiếp cận và triển khai khác nhau.
Do đó, chúng ta không thể áp dụng với dòng sản phẩm thẻ ghi nợ nói riêng và kinh doanh dịch vụ thẻ nói chung. Khoảng trống nghiên cứu Nhìn chung, các vấn đề về kinh doanh dịch vụ thẻ luôn đƣợc chú trọng ở thời điểm hiện tại. Các công trình nghiên cứu đều đã làm rõ nhiều vấn đề trên nhiều khía cạnh của hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ, tổng quan về dịch vụ thẻ ngân hàng và các vấn đề khách liên quan. Tuy nhiên, mỗi bài nghiên cứu lại có cách tiếp cận và nội dung khác nhau, đối tƣợng nghiên cứu cũng nhƣ địa bàn, thời gian nghiên cứu khác nhau, các đánh giá và những khuyến nghị đƣa ra cũng chỉ phù hợp với một đơn vị cụ thể mà không thể áp dụng chung cho tất cả các ngân hàng.
Hơn nữa, hiện nay, hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ vẫn chƣa đƣợc khai thác triệt để và phổ biến rộng rãi trong ngƣời dân. Đa số mọi ngƣời chƣa 9 đƣợc tiếp nhận và hiểu biết rộng rãi về các dịch vụ thẻ và các tiện ích đi kèm. Do đó, vẫn còn rất nhiều điều kiện và cơ hội để phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ nói chung và ở khu vực Đà Nẵng nói riêng. Bên cạnh đó, chƣa có đề tài nghiên cứu nào về phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ ở Đà Nẵng, tại Agribank Đà Nẵng nói chung và Agribank Chi nhánh Đống Đa – TP Đà Nẵng nói riêng tính đến thời điểm này.
Về thời gian nghiên cứu: Các nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ năm 2018 về trƣớc nên với sự thay đổi nhanh chóng về kinh doanh dịch vụ thẻ nhƣ hiện nay, việc sử dụng số liệu đó để đánh giá và phân tích có thể không hoàn toàn phù hợp với tình hình hiện nay. Về không gian nghiên cứu: Chƣa có một đề tài nghiên cứu nào về phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ của Agribank CN Đống Đa – TP Đà Nẵng Chính vì vậy, từ những giá trị tham khảo đƣợc từ các công trình nghiên cứu của các tác giả về cơ sở lý luận và các kinh nghiệm đúc kết, cùng với mong muốn tìm hiểu thực trạng và tìm ra những giải pháp giúp cho hoạt động kinh doanh dịch vụ thẻ đạt hiệu quả cao hơn, tác giả xin chọn đề tài “Phát triển kinh doanh dịch vụ thẻ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Đống Đa, TP Đà Nẵng” làm đề tài nghiên cứu. 10 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN KINH DOANH DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN VỀ THẺ VÀ DỊCH VỤ THẺ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Thẻ ngân hàng: a. Khái niệm thẻ ngân hàng: Khái niệm thẻ thanh toán có nhiều cách diễn đạt, mỗi cách diễn đạt làm nổi bật một tính chất trọng yếu của thẻ. Tổng hợp lại, ta có thể thấy thẻ là phƣơng tiện thanh toán không dùng tiền mặt, ra đời từ phƣơng thức mua bán chịu hàng hóa bán lẻ và phát triển gắn liền với việc ứng dụng công nghệ tin học trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Thẻ là công cụ thanh toán do ngân hàng, các tổ chức tài chính hoặc các công ty phát hành cấp cho khách hàng sử dụng để thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ hoặc rút tiền mặt trong phạm vi số dƣ tiền gửi của mình hoặc hạn mức tín dụng đƣợc ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ.
Thẻ ngân hàng còn dùng để thực hiện các dịch vụ thông qua hệ thống giao dịch tự động (ATM). Còn theo quan điểm của NHNN Việt Nam ban hành theo Thông tƣ 03/VBNH-NHNN ngày 17/01/2020 của Thống đốc Ngân hàng nhà nƣớc, thẻ ngân hàng đƣợc hiểu là “Thẻ ngân hàng là phương tiện thanh toán do tổ chức phát hành thẻ phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. Phân loại thẻ: Mỗi loại thẻ ngân hàng sẽ có những tính chất, cách sử dụng khác nhau. Do đó, có nhiều các phân loại thẻ khác nhau.
11 Phân theo phạm vi lãnh thổ, thẻ đƣợc chia làm hai loại là thẻ nội địa và thẻ quốc tế, cụ thể: - Thẻ nội địa: Là loại thẻ đƣợc sử dụng trong phạm vi một quốc gia, do vậy đồng tiền giao dịch là đồng bản tệ. Thông dụng nhất là thẻ ATM (thẻ ghi nợ nội địa). - Thẻ quốc tế: Là loại thẻ đƣợc chấp nhận thanh toán trên toàn cầu, sử dụng ngoại tệ mạnh để thanh toán. Thẻ này đƣợc khách hàng ƣa chuộng do tính thuận lợi, an toàn.
Các ngân hàng cũng có đƣợc lợi ích đáng kể với loại thẻ này nhƣ nhận đƣợc nhiều sự giúp đỡ trong nghiên cứu thị trƣờng, chi phí xây dựng cơ sở chấp nhận thẻ thấp hơn so với tự hoạt động.Ví dụ nhƣ các loại thẻ mang thƣơng hiệu các tổ chức quốc tế nhƣ Visa, Mastercard, JCB… Phân theo tính chất của thẻ, gồm có thẻ ghi nợ và thẻ tín dụng: - Thẻ ghi nợ: Loại thẻ này có quan hệ trực tiếp và gắn liền với tài khoản tiền gửi hoặc tài khoản séc. Khi mua hàng hoá, dịch vụ, giá trị giao dịch sẽ đƣợc khấu trừ ngay lập tức vào tài khoản của chủ thẻ thông qua các thiết bị điện tử đặt tại nơi tiếp nhận thẻ hoặc rút tiền mặt từ các máy rút tiền tự động (ATM) hay sử dụng các dịch vụ khác mà máy ATM cung ứng. - Thẻ tín dụng: Đây là loại thẻ đƣợc sử dụng phổ biến hiện nay. Chủ thẻ đƣợc sử dụng một hạn mức tín dụng nhất định tuần hoàn không phải trả lãi để mua hàng hoá và dịch vụ.
Cuối tháng, khách hàng sẽ nhận đƣợc một báng sao kê (sao kê là một bảng kê chi tiết các khoản chi tiêu và trả nợ của chủ thẻ cùng lãi và phí phát sinh trong một chu kỳ sử dụng thẻ. Sao kê đƣợc gửi cho chủ thẻ hàng tháng ngay sau ngày lập bảng sao kê) do ngân hàng gửi tới. Nếu khách hàng thanh toán đƣợc hết số tiền nợ thì sẽ không phải trả lãi. Còn nếu trả đƣợc một phần thì chủ thẻ phải trả lãi, trả phí hoặc bị phạt theo quy định của ngân hàng 12 trong từng thời kỳ.
Phân theo tính chất kỹ thuật, gồm hai loại là thẻ từ và thẻ chip: - Thẻ từ: Có gắn dải băng từ chứa thông tin ở mặt sau thẻ.