đặt vấn đề thị trường tiêu thụ đối qui mới công nghệ, chính sách, đào tạo nguồn lao động để làng nghề được phát triển trong điều kiện Việt Nam thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và gia nhập t6 chức thương mại thế giới WTO. Kết quả các công trình nghiên cứu và khoảng trống cần nghiên cứu Từ các công trình nghiên cứu trên có liên quan đến đề tài, có thê rút ra một số kết luận như sau: Các công trình nghiên cứu đã có nhiều đóng góp rất có ý nghĩa về mặt khoa học, làm sáng tỏ nhiều vẫn đề cả lý luận và thực tiễn trên nhiều phương diện về môi trường, làng nghề và quản lý môi trường làng nghề, sự cần thiết phải quản lý môi trường làng nghề tại các cơ quan hành chính nhà nước, thực trạng Công nghiệp hoa — Hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn; tình hình phát triển tiểu thủ công nghiệp; tình hình sản xuất kinh doanh của làng nghề, làng nghề truyền thống từ lao động, công nghệ, von, thị trường tiêu thụ sản phẩm. Những kết quả nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu trên có giá trị tham khảo tốt đối với các công trình nghiên cứu tiếp theo về quản lý môi trường làng nghề ở 5 nước ta. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về các nhân tố gây ảnh hưởng tới quản lý nhà nước đối với môi trường làng nghề ở huyện Yên My, Hưng Yên.
Vi vậy, đây là đề tài độc lập, không trùng tên và nội dung với các công trình khoa học đã công bồ. Trên cơ sở kế thừa những yếu tố tích cực của những luận văn, những công trình khoa học nghiên cứu trước đó, trong nghiên cứu của mình, tôi sẽ hệ thống hóa cơ sở lý luận về môi trường, làng nghề, quản lý môi trường làng nghề, đồng thời phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý môi trường làng nghề, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý môi trường làng nghề trên địa bàn huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên 1. Cơ sở lý luận quản lý môi trường làng nghề cấp huyện 1.1 Các khái niệm liên quan Môi trường Theo định nghĩa của Tổ chức kinh tế văn hóa xã hội Liên Hợp Quốc (UNESCO) năm 1981 thì “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, những cái hữu hình (tập quán, niềm tin.), trong đó con người sống và lao động, họ khai thác các tài nguyên thiên nhiên và nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình”. Đối với con người thì môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh và có những tới sự sống và phát triển của các cá nhân và cộng đồng con người.
Nguyễn Ngọc Sinh (1984) đã đưa ra định nghĩa: "Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kỳ hay một xã hội". Với một số định nghĩa như trên, dé thong nhất về mặt nhận thức, chúng ta sử dụng định nghĩa trong Luật bảo vệ môi trường (Quốc hội 2014) định nghĩa khái nệm môi trường như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. Khái niệm chung về môi trường trên đây được cụ thể hoá đối với từng đối tượng và mục đích nghiên cứu khác nhau. Quản lý môi trường Hiện nay chưa có một định nghĩa thống nhất về quản lý môi trường.
Theo một số tác giả, thuật ngữ về quản lý môi trường bao gồm hai nội dung chính là quản lý nhà nước về môi trường và quản lý của các doanh nghiệp, khu vực dân cư về môi trường. Quản lý môi trường (QLMT) được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp luật pháp, chính sách, kinh tẾ, kỹ thuật, công nghệ, văn hóa, giáo dục. Các biện pháp này có thể đan xen, phối hợp, tích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra (Nguyễn Thế Chinh, 2003). Có thể nêu tóm tắt, QLMT là sự tác động liên tục, có tổ chức, và hướng đích của chủ thé QLMT lên các cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể QLMT, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu QLMT đã dé ra, phù hợp với luật pháp và thông lệ hiện hành.
Sự tác động liên tục, có tô chức và hướng dich của chủ thê QLMT chính là việc tổ chức thực hiện các chức năng của QLMT nhằm phối hợp mục tiêu và các động lực hoạt động của mọi người năm trong hệ thống môi trường để đạt tới mục tiêu chung của hệ thong môi trường. Việc sử dung tốt nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thong la viéc sử dụng có hiệu qua nhất các yếu tố bên trong và bên ngoài của hệ thống môi trường trong điều kiện tương tác với các hệ thống khác, chấp nhận rủi ro có thể xảy ra cho hệ thống. Thực chất của QLMT là quản lý con người trong các hoạt động phát triển và thông qua đó sử dụng có hiệu quả nhất mọi tiềm năng và cơ hội của hệ thống môi trường Quản lý môi trường làng nghề Từ khái niệm quản lý môi trường và làng nghề đã phân tích, tổng hợp ở trên. Ta có thể rút ra rằng: “Quản lý môi trường làng nghề là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững làng nghề” 1.2 Mục tiêu của quản lý môi trường Mục tiêu của quản lý môi trường là phát triển bền vững, giữ cho được sự cân bằng giữa phát triển kinh tế xã hội và BVMT.
Nói cách khác, phát triển kinh tế xã hội tạo ra tiềm lực kinh tế để BVMT, còn BVMT tạo ra các tiềm năng tự nhiên và xã hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thé thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia, mỗi khu vực. Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý về môi trường bao gồm: + Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong hoạt động sống của con người. + Phát triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9 nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị Rio-92 đề xuất.
Các khía cạnh của phát trién bền vững bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và suy thoái chất lượng môi trường sống, nâng cao sự văn minh và công bằng xã hội. + Xây dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thé. Các công cụ trên phải thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dan cư. Tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển ưu tiên của từng quốc gia, mục tiêu quản lý môi trường có thể thay đổi theo thời gian và có những ưu tiên riêng đối với mỗi quốc gia.3 Nguyên tắc quản lý môi trường Các nguyên tắc quản lý môi trường, trước hết, phải phản ánh các yêu cầu khách quan của các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội đang chi phối quá trình quản lý môi trường.
Điều đó có nghĩa là muốn thực hiện đầy đủ và có hiệu quả các nguyên tắc quản lý môi trường, cần phải nghiên cứu, nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan vào điều kiện cụ thé của đối tượng quản lý. Đối với nước ta, quản lý môi trường cần dựa vào những nguyên tắc sau đây: Thứ nhát là bảo đảm tính hệ thống. Nguyên tắc này xuất phát từ bản chất hệ thống của đối tượng quản lý. Dưới ánh sáng của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại, môi trường cần được hiểu như là một hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp thành.
Các phần tử đó có bản chất tự nhiên và xã hội khác nhau, bị chỉ phối bởi các quy luật khác nhau, hoạt động không đồng hướng, thậm chí mâu thuẫn và đối lập nhau. Nhiệm vụ của quản lý môi trường là trên cơ sở thu nhập, tổng hợp và xử lý thông tin về trạng thái hoạt động của đối tượng quản lý (hệ thống môi trường) đưa ra các quyết định quan lý phù hợp, thúc đấy các phan tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối, hài hòa hướng tới mục tiêu đã định. Thứ hai là bảo đảm tính tổng hợp. Nguyên tắc này được xây dựng trên cơ sở tác động tổng hop của hoạt động phát triển lên đối tượng quản lý.
Các hoạt động phát triển thường diễn ra dưới nhiều hình thái rất đa dạng (hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ, hoạt động thương mại, hoạt động dịch vụ, hoạt động đầu tư, sinh hoạt vật chất và tinh thần của các cộng đồng, v. Dù dưới hình thức nào, quy mô và tốc độ hoạt động ra sao, mỗi loại hoạt động, trực tiếp hay gián tiếp, mạnh hay yếu, đều gây ra tác động tong hợp lên đối tượng quản lý (hệ thống môi trường). Vì thế, trong khi hoạch định chính sách và chiến lược môi trường, trong việc đề ra các quyết định quản lý môi trường cần phải tính đến tác động tổng hợp và hậu quả của chúng. Thứ ba là bảo đảm tính liên tục và nhất quán.
Môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đồi vật chat, năng lượng và thông tin “chảy” liên tục trong không gian và thời gian. Có thé nói, hoạt động của hệ thống môi 8 trường không phân ranh giới theo thời gian và không gian. Đặc tính nay quy định tinh nhất quán và tính liên tục của tác động quản lý lên môi trường, đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực dự đoán và xử lý tổng hợp cũng như bản lĩnh của quản lý vi mô của Nhà nước. Thứ tu là bảo đảm tập trung dân chủ.
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của quản lý kinh tế và quản lý xã hội. Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấp khác nhau.