Chương 1: phần tổng quan, giới thiệu lý do hình thành nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi đối tượng nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài trong thực tiễn. Chương 2: trình bày cơ sở lý thuyết về dự án, các nghiên cứu liên quan đến dự án mang tính quốc tế. 6 Chương 3: Từ cơ sở lý thuyết đã trình bày ở chương 2 đưa ra mô hình nghiên cứu và các giả thuyết liên quan. Chương 4: trình bày phương pháp để giải quyết mô hình nghiên cứu gồm thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo, thiết kế bảng câu hỏi và phương pháp lấy mẫu.
Chương 5: trình bày kết quả nghiên cứu sau khi thu thập được mẫu bao gồm thống kê mô tả, phân tích độ tin cậy, phân tích tương quan, phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy đa biến. Chương 6: chương cuối cùng trình bày những kết quả chính của nghiên cứu, những đóng góp của nghiên cứu đối với việc quản lý dự án quốc tế đồng thời cũng đưa ra những hạn chế để định hướng cho những nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 KHÁI NIỆM VỀ DỰ ÁN, QUẢN LÝ DỰ ÁN VÀ QUẢN LÝ DỰ ÁN QUỐC TẾ Có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án và quản lý dự án: Học Viện Quản Lý Dự Án (PMI) định nghĩa dự án là một nỗ lực tạm thời được thực hiện nhằm tạo ra sản phẩm hay dịch vụ duy nhất… Các dự án được thực hiện ở tất cả các cấp độ của tổ chức. Dự án có thể chỉ liên quan đến một người hay nhiều ngàn người.
Thời gian thực hiện dự án có thể từ vài tuần cho đến hơn năm năm. Quản lý dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động dự án nhằm đáp ứng những đòi hỏi của dự án. David và Roland (2006) định nghĩa dự án là một tổ chức được thành lập tạm thời để sử dụng cho việc thực hiện các quy trình quan trọng có tính chiến lược trong ngắn và trung hạn với quy mô vừa và lớn. Quản lý dự án là một quy trình công tác của tổ chức bao gồm các quy trình con: khởi động, phối hợp, kiểm soát và kết thúc dự án.
Trong quá trình quản lý dự án, các mục tiêu của dự án, tiến độ dự án, chi phí và lợi nhuận dự án, nguồn lực và nguy cơ của dự án cũng như tổ chức, văn hóa sẽ được xem xét. Bennet (2003) xem dự án là một công tác được định hướng rõ ràng nhằm đạt được mục tiêu với ngân sách và lịch trình xác định. Định nghĩa này cũng tương tự định nghĩa của từ điển Oxford về dự án. Các dự án khác nhau về quy mô, kích cỡ, phạm vi, mục đích, tổ chức khởi động dự án hay ngành dự án.
Chúng cũng khác nhau về đối tượng nhắm đến là khách hàng hay các cổ đông. Thời gian thực hiện dự án có thể là dài hay ngắn. Dự án có thể một phần của các hoạt động nghiên cứu, phát triển, sản xuất, tiếp thị, bán hàng hay nó thuộc về các hoạt động của một chuỗi giá trị như các dự án công nghệ thông tin 8 hay nhân sự. Tuy nhiên, theo Kathrin (2009) thì bất kể là loại dự án gì, các dự án đều có ba đặc tính chung nhất là: Bị giới hạn về thời gian, phạm vi, nguồn tài chính, nhân lực Có nguy cơ thất bại do không chắc chắn và phức tạp Tính độc nhất về các mục tiêu, nội dung và tổ chức.
Tuy nhiên, ít nhà nghiên cứu định nghĩa rõ ràng thế nào là dự án quốc tế hay dự án toàn cầu dù có rất nhiều nghiên cứu về nó. Bennet (2003) đã định nghĩa rằng một dự án quốc tế hay một dự án khu vực là một dự án liên quan đến nhiều tổ chức, nhiều địa điểm hay nhiều đơn vị kinh doanh và có liên quan đến một hay nhiều tổ chức, công ty nước ngoài. Theo Kathrin (2009) thì dự án quốc tế là dự án vượt biên giới quốc gia do mục đích của dự án hay quốc tịch của các bên liên quan đến dự án. Chúng ta có thể liệt kê một vài ví dụ về dự án quốc tế hay khu vực minh họa cho định nghĩa trên là: Các doanh nghiệp liên doanh, các chi nhánh của các tập đoàn đa quốc gia ở các nước khác nhau.
Các dự án, các chương trình, các tổ chức liên chính phủ hay quốc tế như các dự án viện trợ nhân đạo, viện trợ phát triển,… Các dự án của các công ty, tập đoàn mở rộng hoạt động kinh doanh, sản xuất ra nước ngoài. Các dự án đấu thầu quốc tế. Các dự án liên doanh với các nhà thầu quốc tế để thực hiện các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng.2 SỰ KHÁC NHAU GIỮA DỰ ÁN THÔNG THƢỜNG VÀ DỰ ÁN QUỐC TẾ Nhìn chung, các dự án quốc tế không quá khác với các dự án thông thường vì nó cũng có những đặc trưng cơ bản của một dự án về tổ chức, ngành, vị trí trong chuỗi giá trị và thời gian thực hiện. Tuy nhiên, có một số điểm khác nhau rõ ràng được Kathrin (2009) đề cập như sau: Mục đích của các dự án quốc tế thường rộng và phức tạp hơn các dự án thông thường như mở rộng thị trường, gia tăng thị phần toàn cầu, quyền lực thị trường hay quyền lực chính trị, tận dụng lợi ích kinh tế về quy mô, nhân lực hay trình độ công nghệ.
Phạm vi của dự án quốc tế thường lớn. Phạm vi càng lớn thì độ phức tạp càng cao. Số lượng các tổ chức và các đối tác liên quan đến dự án: trái ngược với các dự án thông thường, các đối tác của dự án quốc tế thường là các đối tác nước ngoài, không phải người nội địa. Mức độ rủi ro: các dự án quốc tế thường chịu nhiều rủi ro hơn các dự án thông thường khác.
Một trong những nguyên nhân là do sự phức tạp khó phân tích của môi trường quốc tế. Các thay đổi thường bất ngờ và không thể tiên đoán được. Ngoài ra, Bennet (2003) còn liệt kê thêm một số các yếu tố như: Sự phụ thuộc của tổ chức vào dự án: trong một dự án thông thường, nếu có thất bại thì chỉ có tổ chức đó thất bại, tầm ảnh hưởng chỉ ở quy mô nhỏ, địa phương. Tuy nhiên, dự án quốc tế thì có khuynh hướng bị nhìn thấy nhiều hơn, ở quy mô quốc tế hơn nên mức độ quan trọng của dự án nhiều hơn.
10 Chi phí dự án: dự án quốc tế thường phải chi phí nhiều hơn dự án thông thường vì nó đòi hỏi nhiều sự đi lại, thông tin và phối hợp. Mức độ phức tạp của dự án cũng làm cho chi phí cao hơn.3 CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA DỰ ÁN QUỐC TẾ Theo Kathrin (2009) thì các dự án quốc tế có các đặc điểm chính sau đây: a. Tính phức tạp: chủ yếu do các yếu tố về tổ chức và địa lý. Dự án quốc tế thường liên quan đến nhiều tổ chức mà mỗi tổ chức có những lợi ích riêng của mình trong dự án và họ sẽ cố gắng bảo vệ những lợi ích đó của mình.
Do đó, việc quản lý dự án làm sao hài hòa lợi ích của các bên rất là quan trọng, nếu không dự án sẽ dễ dàng thất bại. Phức tạp do vấn đề địa lý làm trở ngại cho việc đi lại, thông tin giữa các đối tác trong dự án. Người quản lý dự án cần thiết lập các hệ thống và chính sách hỗ trợ cho việc trao đổi thông tin, hợp tác giữa các bên nhanh chóng, kịp thời vượt qua sự khác biệt về múi giờ giữa các khu vực. Nguy cơ thất bại cao: do sự phức tạp của nó, nhiều dự án quốc tế không đáp ứng yêu cầu về ngân sách và thời gian mặc dù điều này cũng không quá bất thường với các dự án thông thường.
Tuy nhiên, môi trường quốc tế còn chịu thêm các rủi ro, bất ổn như chính trị, lạm phát, các chính sách thuế, tỉ giá, luật pháp,. thay đổi bất ngờ. Tính độc nhất: như định nghĩa ở trên, dự án có tính độc nhất. Các dự án quốc tế có những mục tiêu độc nhất như để mở rộng sự hiện diện thị trường, đạt được lợi ích kinh tế quy mô,…Ngữ cảnh mà dự án hoạt động cũng mang tính độc nhất.
Mỗi nước có những đặc trung về kinh tế, chính trị, xã hội khác nhau, mức độ phát triển về công nghệ và thái độ đối với môi trường khác nhau làm dự án có những điểm độc đáo, riêng biệt. Tính đa dạng: Tính đa dạng của dự án quốc tế bắt nguồn từ sự khác biệt về văn hóa, giáo dục, nghề nghiệp. Sự khác biệt văn hóa quốc gia có tác động mạnh mẽ đến tất cả các giai đoạn của quản lý dự án từ khi hình thành đến khi kết thúc. Các thành viên trong dự án cần lưu ý vần đề này và quản lý nó một cách hiệu quả.
Tính động: Dự án quốc tế thường đối mặt với sự thay đổi bất ngờ và liên tục. Nguyên nhân là do sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường toàn cầu và các bên đối tác của dự án có những lợi ích riêng không thể hiện rõ ràng. Bên cạnh đó, môi trường phức tạp cũng tạo ra nhiều cơ hội và thách thức mới. Tính giới hạn của các nguồn lực: dự án quốc tế thường có phạm vi công việc lớn và đòi hỏi nhiều nguồn lực hơn.
Thời gian sử dụng cho việc hoạch định dài hơn. Chi phí cho việc di chuyển và hợp tác nhiều hơn. Hơn thế nữa, vấn đề tuyển dụng được các nhân viên có kỹ năng ngôn ngữ và đa văn hóa cũng là một thách thức lớn.4 TIÊU CHUẨN THÀNH CÔNG CỦA DỰ ÁN VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ THÀNH CÔNG CỦA DỰ ÁN QUỐC TẾ 2.1 Tiêu chuẩn thành công của quản lý dự án Một cách truyền thống và theo Kathrin (2009), David và Roland (2006) thì một dự án được quản lý thành công nếu nó nằm trong phạm vi giới hạn “tam giác thần kỳ” (magic triangle) gồm chi phí, thời gian và chất lượng. Nghĩa là việc quản lý dự án thành công nếu nó đáp ứng ba mục tiêu: hoàn thành với chất lượng mong muốn trong thời gian và chi phí đã được xác định.
12 Chất lượng Thời gian Chi phí Hình 2.