Chương 1 đã trình bày sơ lược những thông tin cơ bản của đề tài nghiên cứu bao gồm: Lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các điểm mới và đóng góp của nghiên cứu, cấu trúc nghiên cứu. Qua đó giúp người đọc có cái nhìn khái quát về đề tài nghiên cứu, đi vào tìm hiểu cụ thể ở các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 2.1 TỔNG QUAN VỀ PHÁT HÀNH TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP 2.1 Khái niệm trái phiếu và phát hành trái phiếu doanh nghiệp Trái phiếu là một chứng nhận hay bút toán giúp xác nhận nghĩa vụ nợ của chủ thể phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu (người mua trái phiếu) đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá của trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định (Trần Vinh Quang, 2017). Về văn bản pháp luật của Nhà nước thì Luật Chứng khoán số 54/2019/QH14 do Quốc hội ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2019, có quy định cụ thể tại Khoản 3 Điều 4 như sau: “Trái phiếu là loại chứng khoán xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của tổ chức phát hành.” Chủ thể phát hành trái phiếu là doanh nghiệp thì trái phiếu được gọi là Trái phiếu doanh nghiệp, Người phát hành trái phiếu là Chính phủ thì trái phiếu được gọi là Trái phiếu Chính phủ, Người phát hành trái phiếu là Chính quyền địa phương thì trái phiếu được gọi là Trái phiếu Chính quyền địa phương (hay còn gọi là Trái phiếu đô thị).
Ngoài ra, khái niệm “trái phiếu doanh nghiệp” còn được định nghĩa tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP của Chính Phủ vào ngày 31/12/2020 về việc Quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế như sau: “Trái phiếu doanh nghiệp” là loại chứng khoán có kỳ hạn từ 01 năm trở lên do doanh nghiệp phát hành, xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với một phần nợ của doanh nghiệp phát hành. Tiếp đến cụm từ “phát hành” nghĩa là “phân phát” và “ban hành” những nghĩa vụ nợ của các doanh nghiệp đối với nhà đầu tư. Như vậy, “phát hành trái phiếu doanh 8 nghiệp” là phân phát và ban hành các nghĩa vụ nợ đối với các doanh nghiệp. Có 2 hình thức phát hành là phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.2 Mục tiêu của phát hành trái phiếu doanh nghiệp Mục tiêu của việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp nhằm huy động vốn bằng tiền mặt phục vụ cho hoạt động mở rộng sản xuất kinh doanh, hoạt động đầu tư sản xuất và đầu tư tài chính thông qua hoạt động M&A, … Hoạt động này giúp doanh nghiệp giảm việc phát hành cổ phần mà có thể gây pha loãng sở hữu hay vay ngân hàng với các yêu cầu nhất định.
Cụ thể: Đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh: Các doanh nghiệp sản xuất, năng lượng, bất động sản, … có thể lựa chọn phát hành trái phiếu doanh nghiệp để huy động vốn nhằm đầu tư vào các nhà máy, máy móc, dự án,. giúp mở rộng cơ sở kinh doanh và nâng quy mô của doanh nghiệp lên. Đa dạng hóa nguồn vốn: Khi lựa chọn phát hành trái phiếu doanh nghiệp các công ty có thể đã cân nhắc đến cấu trúc vốn của mình, khi phát hành trái phiếu công ty đã tăng tỷ trọng phần nợ bằng trái phiếu cao hơn so với vốn chủ hoặc nợ vay từ các tổ chức tín dụng. Vì khi công ty tài trợ bằng trái phiếu doanh nghiệp sẽ giúp công ty tưởng những lợi ích từ tấm lá chắn thuế từ lãi trái phiếu (Kraus & Litzenberger, 1973) do việc thanh toán lãi như là một chi phí tài chính trước khi tính lợi nhuận.
Tái cấu trúc nợ: Trong quá trình hoạt động về mặt kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp nhiều khi sẽ gặp khó khăn do tình hình nội bộ hoặc từ yếu tố vĩ mô, ngành tác động, hoặc do kiệt quệ tài chính từ sử dụng nợ (Kraus & Litzenberger, 1973) buộc các doanh nghiệp này phải đưa ra giải pháp để vực dậy doanh nghiệp, một trong những 9 giải pháp đó là tái cấu trúc các khoản nợ của mình. Việc này giúp doanh nghiệp có một lượng tiền mặt để đáp ứng nhu cầu thanh toán cho các chủ nợ, nhà cung cấp, …giải quyết được ngay vấn đề thanh khoản của doanh nghiệp. Hoạt động này đặc biệt được quan tâm trong giai đoạn tới đây (2023-2025) khi hàng loạt doanh nghiệp Bất động sản mất thanh khoản do các điều kiện khó khăn của thị trường. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng có thể phát hành trái phiếu để gia tăng xây dựng thương hiệu, uy tín của mình giúp nâng cao giá trị doanh nghiệp và thu hút các nhà đầu tư tài chính quan tâm.3 Các lý thuyết về việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp Như đã đề cập ở trên, lựa chọn phát hành trái phiếu doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp, việc thực hiện nghiên cứu về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp đã được thực hiện hàng thập kỷ qua, và sau đây là một trong những nền tảng lý thuyết đề cập đến hoạt động phát hành trái phiếu doanh nghiệp: Lý thuyết M&M về cơ cấu vốn: Lý thuyết (Modiglani & Miller, 1958) về cơ cấu vốn được xem là lý thuyết hiện đại lý giải được quan hệ giữa giá trị doanh nghiệp, chi phí sử dụng vốn và mức độ sử dụng nợ của doanh nghiệp.
Nhóm tác giả đưa ra hai mệnh đề và xem xét trong hai trường hợp có thuế và không có thuế. Trong trường hợp không có thuế, giá trị doanh nghiệp có vay nợ và giá trị doanh nghiệp không có vay nợ là như nhau. Do đó, giá trị doanh nghiệp không thay đổi khi cơ cấu vốn của doanh nghiệp thay đổi. Hay nói cách khác, việc thay đổi cơ cấu vốn không mang lại lợi ích gì cho cổ đông.
Đây chính là nội dung mệnh đề 10 M&M số I. Mệnh đề M&M số II cho rằng, chi phí sử dụng vốn bình quân không đổi trong khi chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi doanh nghiệp gia tăng tỷ số nợ. Trong trường hợp có thuế, giá trị doanh nghiệp có vay nợ bằng giá trị doanh nghiệp không vay nợ cộng với hiện giá của lá chắn thuế do sử dụng nợ. Như vậy, việc sử dụng nợ hay sử dụng đòn bẩy tài chính làm gia tăng giá trị cho doanh nghiệp.
Đây chính là nội dung mệnh đề M&M số I trong trường họp có thuế. Mệnh đề M&M số II trong trường họp có thuế cho rằng chi phí sử dụng vốn bình quân giảm trong khi chi phí sử dụng vốn cổ phần tăng lên khi doanh nghiệp gia tăng tỷ số nợ. Tuy nhiên, lý thuyết M&M chưa xem xét tác động của một số chi phí khác khiến cho lợi ích của lá chắn thuế bị giảm dần và đi đến triệt tiêu khi doanh nghiệp gia tăng tỷ số nợ. Đó chính là tác động của chi phí kiệt quệ tài chính.
Khi doanh nghiệp gia tăng sử dụng nợ làm cho rủi ro của doanh nghiệp tăng theo. Điều này làm phát sinh chi phí kiệt quệ tài chính tác động đồng thời với lợi ích của lá chắn thuế. Đến một điểm nào đó thì chi phí kiệt quệ tài chính sẽ vượt qua lợi ích của lá chắn thuế. Ở điểm đó, gọi là điểm cơ cấu vốn tối ưu, giá trị doanh nghiệp đạt cực đại và chi phí sử dụng vốn trung bình đạt cực tiểu.
Khi doanh nghiệp tiếp tục gia tăng sử dụng nợ, doanh nghiệp sẽ vượt qua điểm tối ưu, ở đó giá trị của doanh nghiệp bắt đầu giảm và chi phí sử dụng vốn bình quân của doanh nghiệp bắt đầu tăng. Lợi ích của lá chắn thuế không đủ bù đắp cho chi phí kiệt quệ về tài chính. Tuy nhiên, khái niệm chi phí kiệt quệ về tài chính là khái niệm chỉ có giá trị lý thuyết. Trên thực tiễn rất khó quan sát và xác định được tất cả các loại chi phí có liên quan đến chi phí kiệt quệ tài chính.
Chỉ có những loại chi phí kiệt quệ tài chính trực tiếp như chi phí luật sư, kế toán theo dõi và giải quyết phá sản mới có thể quan sát và xác định được, còn các loại chi phí kiệt quệ tài chính gián tiếp khác như chi phí do mất khách hàng, mất nhà cung cấp, mất nhân viên giỏi, mất thời gian và công sức của ban quản lý vào việc đối phó với khó khăn tài chính thì rất khó quan sát và xác định cụ thể. 11 Như vậy, nợ ở đây được hiểu chung, như: vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, …do đó, theo lý thuyết M&M thì khi doanh nghiệp phát hành trái phiếu giúp gia tăng giá trị của mình nhờ vào tấm lá chắn thuế. Lý thuyết đánh đổi (Trade-off Theory): Được nghiên cứu bởi (Kraus & Litzenberger, 1973) vào năm 1973, nhóm tác giả cho rằng doanh nghiệp có thể xác định được một cấu trúc vốn tối ưu nhằm tối đa hóa được giá trị doanh nghiệp khi căn cứ vào sự đánh đổi (trade-off) giữa lợi ích và chi phí của việc sử dụng nợ, lợi ích là từ lá chắn thuế và chi phí kiệt quệ tài chính tức là rủi ro khi sử dụng nợ. Theo quan điểm của lý thuyết đánh đổi, doanh nghiệp có thể tối ưu cấu trúc nợ và vốn chủ của mình bằng cách xác định một điểm mà tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm vừa đủ để bù đắp cho sự gia tăng của chi phí kiệt quệ tài chính dự tính trong điều kiện các kế hoạch đầu tư và tài sản của doanh nghiệp là không đổi.
Như vậy, việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp là một công cụ để giúp các doanh nghiệp tối ưu hóa được giá trị của mình. Lý thuyết đánh đổi đã giải quyết được một vài mặt hạn chế của lý thuyết M&M khi đề cập đến chi phí kiệt quệ tài chính. Bên cạnh đó, lý thuyết đánh đổi còn cho thấy có sự khác biệt về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp đang kinh doanh với các ngành nghề khác nhau. Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory) Lý thuyết này được phát triển vào năm 1984 bởi (Myers & Majluf, 1984).