CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA SỞ HỮU NHÀ NƯỚC ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG DOANH NGHIỆP VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp 1. Khái niệm Trong các công ty cổ phần, hiệu quả hoạt động là chỉ tiêu quan trọng, được các bên liên quan như các cổ đông, ban giám đốc, hội đồng quản trị, các chủ nợ…quan tâm.
Thông qua hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, các bên liên quan có thể ra quyết định đầu tư hay kinh doanh. hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất phát từ khái niệm hiệu quả kinh doanh, phản ánh quan điểm của quản lý chiến lược, là một tập hợp con của hiệu quả tổ chức (N. Venkatraman & Vasudevan Ramanujam, 1986). Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động đến từ lý thuyết tổ chức và quản trị chiến lược (Murphy và cộng sự,1996).
Xét theo lý thuyết tổ chức và quản trị doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được tiếp cận theo hướng mục tiêu hoặc theo hệ thống: - Trường hợp tiếp cận theo hướng mục tiêu thì khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là hiệu quả các hoạt động tài chính và hiệu quả các hoạt động phi tài chính của doanh nghiệp. Cũng theo lý thuyết trên, hiệu quả hoạt động dựa vào việc đánh giá các chỉ số tài chính trong việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế của công ty. Điển hình của cách tiếp cận này là đánh giá hiệu quả hoạt động qua các chỉ số về khả năng sinh lợi (ROA, ROE) và tỷ số giá trị thị trường. Trên phương diện rộng hơn, hiệu quả hoạt động bao gồm cả hiệu quả phi tài chính như: thị phần, giới thiệu sản phẩm mới, chất lượng sản phẩm, hiệu quả tiếp thị, và các biện pháp về hiệu quả công nghệ trong lĩnh vực kinh doanh… (N.
Venkatraman & Vasudevan Ramanujam, 1986). - Trường hợp tiếp cận theo hướng hệ thống, khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là hiệu quả của toàn bộ hệ thống doanh nghiệp, được đo lường bằng hiệu quả của tất cả các bộ phận trong doanh nghiệp gộp lại, bao gồm bộ phận quản lý, bộ phận chăm sóc khách hàng, bộ phận marketing…Theo cách tiếp cận này, nhiều mô hình đã được đưa ra nhằm đo lường hiệu quả hoạt động của doanh 4 nghiệp như: thẻ điểm cân bằng của Kaplan và Norton (được cấu thành từ bốn khía cạnh riêng biệt: tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học tập và phát triển, và tất cả cần được cân bằng); lăng kính hiệu quả của Kennerly và Neely (bao gồm 5 khía cạnh khi xác định một khung đánh giá hiệu quả hoạt động: sự hài lòng của các bên liên quan, chiến lược, quy trình, khả năng, đóng góp của các bên liên quan); ma trận đo lường hiệu suất của Keegan và cộng sự (phân loại các yếu tố đánh giá hiệu quả thành 4 chiều khác nhau: tài chính, phi tài chính, bên trong và bên ngoài); kim tự tháp SMART của Lynch và Cross (mô hình tích hợp giữa mục tiêu chiến lược và kích thước hiệu quả hoạt động của tổ chức thông qua cấu trúc 4 cấp tích hợp cả khía cạnh tài chính và phi tài chính, nội bộ và bên ngoài),… 1. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Việc sử dụng các chỉ tiêu tài chính là rất cần thiết trong việc đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Hiện nay có rất nhiều cách tiếp cận về đánh giá hoạt động doanh nghiệp, phần lớn các nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp như Monsen (1968), Palmer (1973), Sorenson (1974), Steer và Cable (1978), Thomsen và Perdersen (2000), đều sử dụng các chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lời là ROA và ROE để đánh giá hiệu quả hoạt động doanh nghiệp.
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản đo lường hiệu quả hoạt động của một công ty trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận sau thuế sau khi đã trừ thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản ROA là tỷ số cung cấp cho nhà đầu tư thông tin về các khoản lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ lượng vốn đầu tư, tức là cứ một đồng đầu tư vào tổng tài sản thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Tài sản của một doanh nghiệp được hình thành từ nợ và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp.
ROA càng cao thì càng tốt vì điều đó cho thấy doanh nghiệp đang kiếm được nhiều lợi nhuận từ tổng tài sản. Chỉ số này là cơ sở quan trọng để những 5 người đi vay hay cho vay cân nhắc ra quyết định liệu xem công ty có thể tạo ra mức sinh lợi cao hơn chi phí sử dụng nợ hay không. Đồng thời, ROA còn là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu hay còn gọi là doanh lợi vốn chủ sở hữu, là tỷ số đo lường mức lợi nhuận trên vốn đầu tư của các chủ sở hữu, nhằm phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính.
Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu Chỉ số này là thước đo chính xác để đánh giá một đồng vốn bỏ ra và tích luỹ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế, thể hiện tỷ lệ phần trăm lợi nhuận thu được của các cổ đông vốn chủ sở hữu. Đồng thời ROE giúp các nhà đầu tư so sánh hiệu suất của các khoản đầu tư cổ phiếu khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến chiến lược đầu tư trong tương lai của họ. Hệ số này thường được các nhà đầu tư phân tích để so sánh với các cổ phiếu cùng ngành trên thị trường, từ đó tham khảo khi quyết định mua cổ phiếu của công ty nào. Hầu hết các cổ đông hoặc các nhà đầu tư rất quan tâm đến tỷ số này vì nó gắn với lợi nhuận mà họ có thể nhận được.
Nếu tỷ số ROE cao sẽ cho thấy hiệu quả sinh lời của doanh nghiệp là tốt, vì số lượng vốn chủ sở hữu bỏ ra đầu tư đã tạo được mức lợi nhuận sau thuế tốt. Tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) Tỷ suất sinh lời trên doanh thu hay suất sinh lời của doanh thu phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng dành cho nhà đầu tư và doanh thu của công ty; cho chúng ta biết một đồng doanh thu thuần từ bán hàng và cung cấp dịch vụ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận, hay nói cách khác lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu. Lợi nhuận sau thuế ROS = Doanh thu thuần Vì doanh thu là con số dương nên nếu chỉ số ROS dương, thì doanh nghiệp kinh doanh có lãi, khi ROS càng lớn thì lãi càng lớn. Một doanh nghiệp muốn bền vững thì nên duy trì tỷ số ROS ổn định, hoặc gia tăng theo thời gian.
Nếu chỉ số ROS âm, 6 là dấu hiệu chi phí đang vượt tầm kiểm soát (giá nguyên liệu đầu vào tăng, chi phí bán hàng hoặc chi phí quản lý doanh nghiệp tăng…), hoặc doanh nghiệp đang phải chiết khấu để bán sản phẩm hoặc dịch vụ. Chỉ số ROS cũng phụ thuộc vào đặc tính của từng ngành nghề, muốn đánh giá doanh nghiệp cần phải so sánh với mặt bằng ROS trung bình ngành để xem doanh nghiệp có đang hoạt động tốt hay không. Tỷ suất sinh lời trên chi phí đầu tư (ROI) Tỷ suất sinh lời trên chi phí đầu tư hay lợi tức đầu tư được sử dụng để xác định lợi nhuận tài chính trong quá khứ và tiềm năng tương lai, hoặc chi phí cơ hội mà nhà đầu tư đã bỏ ra để đầu tư vào công ty. Lợi nhuận sau thuế ROI = Chi phí đầu tư Chỉ số ROI cho phép doanh nghiệp theo dõi và phân tích các dự án ngắn hạn và dài hạn, từ đó đặt ra các mục tiêu đơn giản cho các dự án này.
Đồng thời ROI giúp các nhà quản trị đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp mà họ sở hữu và giúp doanh nghiệp xác định có đang đi đúng hướng hay không. Chỉ số ROI được xác định phụ thuộc vào mục đích và lĩnh vực đầu tư. Ví dụ nếu công ty chi tiền cho một thiết bị, thì ROI tính theo năng suất. Mặt khác, đầu tư cho marketing thì tính ROI theo quá trình bán hàng.
Như vậy ROI nhà đầu tư mong muốn từ nỗ lực tối ưu hóa công cụ tìm kiếm sẽ khác với ROI từ khoản đầu tư vào một nhà máy hay thiết bị mới. Đây là một công cụ hữu ích để đánh giá các quyết định kinh doanh trong quá khứ của và thông báo cho những quyết định trong tương lai. Các nhà đầu tư cũng có thể sử dụng thông tin từ các tính toán ROI để so sánh các cơ hội kinh doanh mới và ra quyết định đầu tư. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động doanh nghiệp Quy mô của doanh nghiệp Quy mô doanh nghiệp là một trong các nhân tố tác động đến ROA và ROE, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp lớn, có uy tín và hoạt động lâu năm chắc chắn sẽ có những thuận lợi và ưu thế nhất định so với những doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ vừa mới kinh doanh 7 những dự án đầu tiên. Nhìn chung với tất cả các ngành nghề kinh doanh, khách hàng sẽ chỉ đặt niềm tin và quay trở lại với sản phẩm của doanh nghiệp mà họ cảm thấy có chất lượng và giá cả phù hợp với nhu cầu của họ. Bên cạnh đó, quy mô lớn giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc đi vay hay kêu gọi đầu tư bởi tình hình tài chính ổn định hay tài sản đảm bảo đủ an toàn để thế chấp các khoản vay. Nghiên cứu của Kapopoulos & Lazaretou (2007) và Imam & Malik (2007) cũng đã xác định rằng quy mô doanh nghiệp càng lớn sẽ giúp doanh nghiệp hoạt động càng hiệu quả hơn.
Số năm hoạt động của doanh nghiệp Số năm hoạt động trên thị trường là một nhân tố chủ quan có sự ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Những doanh nghiệp đã có thâm niên sâu trên thị trường thường được biết đến bởi nhiều đối tượng khách hàng, nhà đầu tư hơn so với các doanh nghiệp trẻ mới tham gia thị trường.