Chương 1: Giới thiệu Trong phần này, luận án nêu rõ tính cấp thiết của luận án, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của luận án, bố cục của luận án. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin Chương này trình bày một số khái, thuật ngữ, lợi ích của công bố thông tin, lý thuyết giải thích công bố thông tin và tổng quan tài liệu nghiên cứu trong nước và thế giới. 6 Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này trình bày quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phát triển giả thuyết nghiên cứu, kỹ thuật thu thập và phân tích dữ liệu. Luận án cũng đã tổng quan các nghiên cứu sử dụng đến phương pháp nghiên cứu được lựa chọn trong luận án, để từ đó cho thấy sự lựa chọn phương pháp nghiên cứu của luận án là phù hợp.
Chương 4: Mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên HOSE Chương này trình bày và phân tích kết quả nghiên cứu theo nội dung thứ nhất đã được đặt ra, đó là: Mức độ công bố thông tin trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán TPHCM. Kết quả nghiên cứu của chương này cũng nhằm mục đích trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ 1 của luận án và làm căn cứ để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin ở chương tiếp theo. Chương 5: Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin Chương này trình bày kết quả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty trong mẫu nghiên cứu. Nội dung đầu tiên của chương trình bày kết quả phân tích mô tả các biến độc lập, nội dung tiếp theo phân tích điều kiện và các yếu tố của mô hình hồi quy OLS các yếu tố ảnh hưởng và cuối cùng là kết luận chương.
Chương 6: Kết luận và hàm ý Chương này luận án đã đưa ra những nhận xét chung và trên cơ sở kết quả nghiên cứu ở chương 4 và chương 5 đề xuất một số kiến nghị đối với đối tượng lập, sử dụng và quản lý báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên HOSE. Từ đó, cũng nêu lên hạn chế của luận án và hướng phát triển nghiên cứu trong tương lai. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN Để làm cơ sở cho việc giải thích kết quả công bố thông tin của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TPHCM, chương này trình bày khái niệm, mục đích và lợi ích của công bố thông tin, các lý thuyết giải thích và tổng quan nghiên cứu về công bố thông tin. Từ đó, tìm ra các khe trống trong nghiên cứu.
Góp phần quan trọng cho việc giải thích và bàn luận kết quả nghiên cứu ở các chương sau. Khái niệm, mục đích và lợi ích của công bố thông tin 2.1 Khái niệm, mục đích của công bố thông tin Thị trường chứng khoán là một thể chế tài chính cao cấp của nền kinh tế thị trường [40]. Khi tham gia vào TTCK đòi hỏi các định chế, tổ chức hoặc cá nhân nhà đầu tư đều dựa trên nguyên tắc và cơ sở lòng tin. Điều này do hoạt động của thị trường chủ yếu dựa vào những đánh giá, nhận định về sự phát triển, triển vọng của các chứng khoán trong tương lai.
Nói cách khác, thông tin là cơ sở cho hoạt động và sự phát triển của TTCK, là yếu tố để nhà đầu tư dựa vào và định giá chứng khoán khi thực hiện đầu tư[22]. Công bố thông tin là một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của TTCK. Nguyên tắc công bố thông tin được hiểu là các định chế, tổ chức khi tham gia thị trường phải có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực và kịp thời những thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của mình hoặc của thị trường cho công chúng đầu tư biết, nghĩa là phải thực hiện công bố thông tin[40]. Nói cách khác, công bố thông tin là việc thông báo đến công chúng đầu tư mọi thông tin liên quan đến tình hình hoạt động của các tổ chức phát hành chứng khoán, tổ chức niêm yết, các thông tin về tình hình thị trường.
Thông thường, các thông tin này phải được thực hiện theo các chuẩn mực, tiêu chuẩn chung để đảm bảo tính kịp thời, dễ hiểu và chính xác. Công bố thông tin được tiến hành theo các chế độ thường xuyên, liên tục, định 8 kỳ hoặc đột xuất thông qua các phương tiện công bố thông tin sao cho đạt hiệu quả nhất[22]. Nguyên tắc này nhằm bảo vệ nhà đầu tư, đồng thời nó cũng có hàm nghĩa rằng, một khi thông tin đã được cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác, người đầu tư phải chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư của mình [40]. Để phân biệt, thông thường người ta sử dụng khái niệm công bố thông tin của tổ chức niêm yết để chỉ nghĩa vụ cung cấp các thông tin liên quan của tổ chức phát hành, tổ chức niêm yết và khái niệm thông tin thị trường để chỉ các thông tin liên quan đến tình hình thị trường thường do Sở Giao dịch chứng khoán chịu trách nhiệm công bố.
Ngoài ra, các thành phần tham gia vào hoạt động của thị trường như công ty chứng khoán, Ủy ban chứng khoán, phương tiện truyền thông cũng cực kỳ quan trọng. Nói tóm lại, thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động và phát triển của TTCK và công khai thông tin, chính là nghĩa vụ của các bên đóng góp vào sự phát triển của thị trường [40]. Theo “sổ tay công bố thông tin dành cho các công ty niêm yết” dành cho các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội, công bố thông tin là “Phương thức để thực hiện quy trình minh bạch của doanh nghiệp nhằm đảm bảo các cổ đông và công chúng đầu tư có thể tiếp cận thông tin một cách công bằng và kịp thời” [38]. Theo nguyên tắc quản trị công ty của OECD thì: “Khuôn khổ quản trị công ty phải đảm bảo việc công bố thông tin kịp thời và chính xác về mọi vấn đề quan trọng liên quan đến công ty, bao gồm tình hình tài chính, tình hình hoạt động, sở hữu và quản trị công ty”[4].
Theo đó, việc công bố thông tin được định nghĩa như là một cách thức để đảm bảo rằng tất cả các bên liên quan đều có thể tiếp cận thông tin thông qua một quy trình minh bạch để đảm bảo cho việc tìm kiếm và thu thập thông tin được dễ dàng, bất kể mục đích tiếp cận thông tin là gì [40]. Dựa vào tính pháp lý, công bố thông tin bao gồm hai loại: công bố bắt buộc và công bố tự nguyện. Công bố bắt buộc (mandatory disclosure) là những thông tin phải công bố theo quy định của các văn bản có tính pháp lý ở mỗi quốc gia. Công bố tự nguyện 9 (voluntary disclosure) là công bố thông tin theo cách tự nguyện của công ty, không có tính bắt buộc.
Có nghĩa là một công ty có thể hoặc không cần phải công bố các thông tin mà luật pháp không yêu cầu, nhằm thỏa mãn nhu cầu của những người sử dụng thông tin bên ngoài doanh nghiệp như nhà đầu tư, nhà phân tích tài chính, ….Ngày nay, công bố thông tin tự nguyện thu hút mối quan tâm lớn của người sử dụng thông tin vì tính ảnh hưởng của nó, và các công ty ngày càng được khuyến cáo là sẽ thu được nhiều lợi ích hơn khi công bố các thông tin[31]. Việc công bố thông tin đôi khi bị nhầm lẫn với tính minh bạch. Đáng tiếc là hai khái niệm này thường bị sử dụng thay thế cho nhau một cách nhầm lẫn. Dù mới nhìn qua thì việc công bố thông tin và tính minh bạch có vẻ là một, nhưng thực tế đó là hai khái niệm khác nhau [40].
Công ty có thể công bố một lượng lớn thông tin không có giá trị đối với những người sử dụng các thông tin được công bố đó. Những thông tin quan trọng có thể bị che đậy. Thông tin được công bố có thể không thích hợp, hoặc tệ hơn, bị bóp méo để che đậy tình hình thực tế của công ty. Chẳng hạn, dù công ty có thể công bố cơ cấu sở hữu của mình theo yêu cầu của luật pháp, những chủ sở hữu thực sự và mức độ kiểm soát của họ vẫn có thể bị che giấu sau những cơ cấu pháp lý phức tạp như những pháp nhân phục vụ các mục đích đặc biệt, các công ty mẹ ở nước ngoài và các tập đoàn[22].
Một chế độ công bố thông tin hiệu quả khuyến khích sự minh bạch chính là đặc trưng cơ bản trong công tác giám sát thị trường của các cơ quan quản lý và đóng vai trò trung tâm trong việc giúp các cổ đông thực thi quyền sở hữu của mình trên cơ sở có đầy đủ thông tin [40]. Lợi ích của công bố thông tin Thông tin là một yếu tố quan trọng trong hoạt động cũng như sự phát triển của TTCK. Không có một thị trường nào, tầm quan trọng của thông tin đạt đến mức độ như TTCK. Trên loại hình thị trường này, nhà đầu tư kinh doanh chứng khoán không những chỉ quan tâm đến các thông tin về tình hình của chính bản thân tổ chức niêm yết, tình hình giao dịch trên thị trường mà còn cả những thông tin ngành, 10 thông tin tình hình kinh tế - xã hội, pháp luật, chính trị, đối ngoại[31].… Thông tin không những có tác động đến đối tượng đầu tư trên TTCK mà còn ảnh hưởng trở lại đến đối tượng thực hiện công bố thông tin (tổ chức niêm yết) và cơ quan quản lý thị trường (Ủy ban chứng khoán hay Sở giao dịch)[40].
Chính vì vậy, vấn đề công khai thông tin quyết định sự tồn tại và phát triển của thị trường chứng khoán. Một TTCK mà thông tin không được công khai hay thiếu minh bạch sẽ nhanh chóng rơi vào tình trạng mất lòng tin từ nhà đầu tư [40]. Việc thực hiện công bố thông tin đóng góp không nhỏ cho mục tiêu phát triển thị trường[3]. Do vậy, việc xây dựng và thiết lập một hệ thống phục vụ hoạt động công bố thông tin trên TTCK là một trong những khâu quan trọng của việc hình thành thị trường.