đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng nhƣ giới thiệu sơ lƣợc về phƣơng pháp và phạm vi nghiên cứu của đề tài. Chƣơng 2 : Cơ sở lý luận Chƣơng này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan để từ đó xây dựng khung phân tích. Chƣơng 3 : Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng này sẽ trình bày các khái niệm có liên quan và lựa chọn các biến đại diện đã đƣợc nêu ở khung phân tích. Trong chƣơng này, mô hình của đề tài cũng đƣợc lựa chọn, sau đó là những trình bày về phƣơng pháp thu thập và xử lý số liệu.
Chƣơng 4 : Kết quả nghiên cứu Trong phần đầu của chƣơng này, nhóm nghiên cứu mô tả thực trạng quá tải của ngành y tế. Sau đó tập trung mô tả bộ dữ liệu trên cơ sở xây dựng các bảng thống kê mô tả, đƣa ra một số nhận xét ban đầu về một số yếu tố có khả năng ảnh hƣởng đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của ngƣời dân tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Phân tích ý nghĩa của các hệ số trong mô hình kết quả sau chạy mô hình hồi quy trên phần mềm Stata. Chƣơng 5 : Kết luận và kiến nghị Chƣơng này sẽ tóm lƣợc lại những kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu.
Từ đó có những kiến nghị nhằm gia tăng sự chọn lựa , sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của ngƣời dân tại cơ sở y tế tuyến địa phƣơng, giúp giảm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 tải các cơ sở y tế tuyến trên. Ngoài ra , chƣơng này còn đánh giá những hạn chế của đề tài để từ đó mở ra những hƣớng nghiên cứu sâu hơn. Sau cùng, phần phụ lục đƣợc đƣa vào để chứng minh cho những kết quả phân tích đƣợc trình bày trong các chƣơng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƢƠNG 2 : CƠ SỞ LÝ LUẬN “Sức khoẻ là một trạng thái hoàn toàn thoải mái cả về thể chất, tâm thần và xã hội, chứ không phải là chỉ là không có bệnh tật hay tàn phế”(WHO,1946).
Còn với cách nhận định của các nhà kinh tế, sức khỏe là vốn quý của con ngƣời, một loại nguồn vốn rất đặc biệt, tuy có thể tăng lên khi đƣợc đầu tƣ nhƣng chỉ ở những giai đoạn nhất định và đến một thời điểm nguồn vốn này sẽ cạn kiệt hoàn toàn và cái chết diễn ra. Mỗi ngƣời tự chọn chiều dài cho cuộc sống của họ (Michael Grossman ,1999). Do đó , tác giả chọn những đặc điểm cá nhân - là giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, giáo dục, thu nhập, tôn giáo, số ngƣời phụ thuộc- làm các biến trong khảo sát – thêm vào đó là BHYT, vốn xã hội và đặc điểm bệnh, điều trị ngoại trú, điều trị nội trú. Với tính chất đặc biệt đó, chăm sóc sức khỏe đã trở thành vùng đất mới của những nhà kinh tế, những ngƣời rất quan trọng vì họ vừa giúp nhân viên y tế yên tâm vào chuyên môn không bị phân tâm về kinh tế, vừa chăm lo cho sức khỏe tài chánh của cơ sở y tế bằng cách cải thiện dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và chính đáng của ngƣời bệnh về dịch vụ y tế , về quyền lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của ngƣời dân ( Kui-Son- Choi, 2004).1 Lý thuyết liên quan Nghiên cứu về hành vi của con ngƣời là một lĩnh vực đa ngành, bao gồm kinh tế học, tâm lý học và xã hội học, tuy phức tạp nhƣng có tính ứng dụng cao trong nhiều hoạt động kinh doanh, ngoại giao.
Khoảng 50 năm gần đây, lĩnh vực này đã mở rộng nghiên cứu về hành vi của con ngƣời đối với việc chọn lựa trong mảng kinh tế sức khỏe. Nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm câu trả lời cho câu hỏi: tại sao ngƣời tiêu dùng có những lựa chọn về bảo hiểm y tế và dịch vụ y tế nhƣ vậy? Trong đó có Daniel L. McFadden, với “ Lý thuyết và phƣơng pháp phân tích lựa chọn rời rạc” đã nhận đƣợc giải Nobel kinh tế năm 2000. Khởi nguồn từ lý thuyết kinh tế vi mô, lý thuyết của McFadden cho rằng mỗi cá nhân sẽ lựa chọn một trong các khả LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 năng hữu hạn cho trƣớc để tối đa hóa lợi ích của mình.
Mà lợi ích có đƣợc sau sử dụng dịch vụ y tế mà ngƣời dùng mong muốn là sức khỏe - phần quan sát đƣợc - và một phần hữu dụng không quan sát đƣợc .1) Với Uij : hữu dụng của cá nhân với lựa chọn cơ sở y tế j hij : sức khỏe của cá nhân sau khi lựa chọn cơ sở y tế j Cij : chi phí cá nhân khác sau lựa chọn cơ sở y tế j Mà hij = h0 + Qij (2.2) h0 : sức khỏe cá nhân trƣớc khi sử dụng dịch vụ y tế Q ij : chất lƣợng dịch vụ y tế mà cá nhân i sử dụng tại cơ sở y tế j Trong đó Q khác nhau giữa mỗi cá nhân, mỗi hình thức điều trị Qij = Q (Pi ,Dj) (2.3) P i : các đặc tính cá nhân i Dj : hình thức điều trị tại cơ sở y tế j Đặc tính quan sát đƣợc của cá nhân có thể tác động đến lựa chọn cơ sở y tế có thể là giới tính, tuổi tác, tôn giáo, giáo dục, thu nhập, số ngƣời phụ thuộc, quan hệ lao động, BHYT ; Các thuộc tính không quan sát đƣợc có thể là vốn xã hội của cá nhân .3) ta có : Uij = U (Pi , Dj, εij ) Với εij : hữu dụng của các yếu tố không quan sát đƣợc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Viết lại dƣới dạng tham số ƣớc lƣợng , ta có Uij = βpjPi + βDDj + εij , với βpj , βD là các tham số ƣớc lƣợng 2.2 Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan : - Muriithi -2013, nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến sự lựa chọn cơ sở y tế ở Nairobi, Kenya. Dữ liệu đƣợc thu thập vào năm 2008, bằng cách thu thập các đặc điểm của cá nhân nhƣ: giới tính, tuổi, giáo dục, thu nhập, nghề nghiệp, quy mô hộ gia đình. Và thuộc tính về cơ sở y tế : khoảng cách, chất lƣợng và chi phí điều trị. Tiến hành hồi quy Multinomial Logit (MNL) sẽ có các hệ số ƣớc lƣợng khác nhau với các lựa chọn khác nhau.
Có năm sự lựa chọn cho biến phụ thuộc, bao gồm: tự điều trị, phòng khám tƣ, phòng khám công, bệnh viện công, bệnh viện tƣ nhân. Nghiên cứu đã đƣa ra mô - hình : Vij = V( Xi, Zj, Ii) + εij Với Xi : các đặc tính cá nhân Zj: các đặc tính của cơ sở y tế Ii: thông tin về dịch vụ y tế Nghiên cứu này còn đƣa ra sự tác động của những thông tin về chất lƣợng dịch vụ y tế của cơ sở khám chữa bệnh đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Kết quả nghiên cứu cho thấy ngoài khoảng cách, giá dịch vụ y tế còn có giới tính, thu nhập, chất lƣợng dịch vụ và cả thông tin về chất lƣợng dịch vụ đều có ảnh hƣởng đến sự chọn lựa của ngƣời bệnh trong lựa chọn phƣơng pháp điều trị. Kết quả mô hình MNL cho thấy , khoảng cách càng xa, giá dịch vụ càng tăng thì xác suất chọn tự điều trị tăng lên so với lựa chọn đến cơ sở y tế.
Chất lƣợng dịch vụ tác động đến xác suất chọn cơ sở y tế nhiều hơn là tự điều trị. Sự tin tƣởng vào cơ sở y tế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 càng cao thì xác suất lựa chọn các cơ sở y tế tăng so với tự điều trị. Tăng thông tin về chất lƣợng dịch vụ sẽ làm giảm xác suất tự điều trị so với lựa chọn đến cơ sở y tế. Giới tính cũng ảnh hƣởng đến lựa chọn này nhƣ sau : nam giới thích hình thức tự điều trị hơn trong khi nữ giới thích chọn cơ sở y tế.
Ngƣời dân có giáo dục càng cao thì xác suất chọn đến cơ sở y tế càng tăng so với tự điều trị. - Audibert et al. – 2011, đã tiến hành nghiên cứu về tác động của sự gia tăng thu nhập và giá dịch vụ y tế đến sự lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh tại nông thôn Trung Quốc trong 2 khoảng thời gian 1989-1993 (giai đoạn 1) và 2004-2006 ( giai -đoạn 2). Đồng thời sử dụng hai mô hình - Multinominal Logit và Mixed Multinominal Logit (MMNL)– nghiên cứu này phân tích thông tin của 2117 ngƣời bị bệnh vào năm 1989, 1991 hoặc 1993, và 2594 ngƣời vào năm 2004 hoặc 2006.
Vấn đề của nghiên cứu này là phải có giá của tất cả các cơ sở y tế đƣợc thay thế chứ không chỉ là giá của các cơ sở khám chữa bệnh mà cá nhân lựa chọn. Để xử lý vấn đề này, tác giả đã gán giá trị cho giá của các cơ sở y tế thay thế bằng chƣơng trình Stata ICE của Royston -2004. Trong đó các biến tuổi tác, giới tính, trình độ, nghề nghiệp, thu nhập, bảo hiểm đƣợc dùng để ƣớc tính giá bị thiếu. Nghiên cứu có mô hình sau : Vij = αj + β1Pij +β2Dij + β3jyi + β4jRi + εij Vij: hữu dụng của cá nhân i với lựa chọn j Pj : giá chăm sóc y tế của cơ sở y tế j Dij : khoảng cách từ cá nhân i đến cơ sở y tế j Yi: thu nhập bình quân của cá nhân trong hộ gia đình Ri: đặc tính cá nhân khác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Mỗi cá nhân đối mặt với năm lựa chọn : trạm y tế xã, trung tâm y tế thị trấn, bệnh viện thành phố và trung ƣơng, các cơ sở y tế khác hoặc tự điều trị - sẽ lựa chọn sao cho tối đa hóa lợi ích của mình.
Sau khi hồi quy MMNL, kết quả cho thấy trong cả 2 giai đoạn khi giá dịch vụ y tế tăng lên thì ngƣời dân đều có khuynh hƣớng giảm sự lựa chọn đến cơ sở y tế. Nhƣng từ năm 2004-2006, hồi quy MNL cho kết quả biến giá không có ý nghĩa thống kê ; chỉ trong giai đoạn 1989-1993, biến giá dịch vụ y tế mới có tác động đến lựa chọn. Tuổi càng cao , cá nhân có khuynh hƣớng chọn tự điều trị càng cao. Sống càng gần thành phố, cá nhân càng chọn tự điều trị hơn là đến cơ sở y tế.