Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng quá tải tại các bệnh viện tuyến trên đang là thách thức nghiêm trọng đối với hệ thống y tế Việt Nam, đặc biệt tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Báo cáo chung Tổng quan ngành y tế cho thấy công suất sử dụng giường bệnh tại tuyến trung ương thường xuyên vượt ngưỡng 118%, trong khi tỷ lệ bệnh nhân không qua cơ sở y tế ban đầu mà đến thẳng tuyến tỉnh là 55,80% và tuyến trung ương là 66,00%. Tình trạng vượt tuyến tràn lan gây lãng phí nguồn lực xã hội và tạo áp lực thâm hụt tài chính nặng nề. Điển hình tại tỉnh Bến Tre, tổng chi phí khám chữa bệnh vượt tuyến ngoại tỉnh năm 2014 đã lên tới 149 tỷ đồng, chiếm 29,00% tổng quỹ Bảo hiểm Y tế của địa phương. Trong khi đó, tại huyện ven biển Thạnh Phú, Bệnh viện Đa khoa huyện dù tiếp nhận 221.829 lượt khám bệnh trong năm 2014 nhưng công suất sử dụng giường bệnh chỉ đạt mức 90,00%.

Nghiên cứu tập trung giải quyết bài toán cốt lõi: Xác định và lượng hóa mức độ tác động của các yếu tố kinh tế, xã hội và đặc điểm nhân khẩu học đến quyết định lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân. Không gian nghiên cứu được thực hiện tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre trong khung thời gian thu thập dữ liệu từ ngày 25/3/2015 đến ngày 20/4/2015.

Ý nghĩa của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học thực nghiệm giúp các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh cơ chế phân tuyến, nâng cao hiệu quả hoạt động của 18 trạm y tế xã, thị trấn trên địa bàn, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ vượt tuyến ngoại tỉnh xuống dưới 20,00% và tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách y tế cơ sở.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng Lý thuyết lựa chọn rời rạc của Daniel L. McFadden (nhận giải Nobel Kinh tế năm 2000). Theo McFadden, mỗi cá nhân đối mặt với một tập hợp hữu hạn các phương án lựa chọn sẽ đưa ra quyết định nhằm tối đa hóa hàm thỏa dụng kỳ vọng. Hàm thỏa dụng của cá nhân được phân rã thành hai thành phần chính: phần tất định quan sát được từ các đặc tính cá nhân, chi phí, chất lượng dịch vụ và phần ngẫu nhiên không quan sát được đại diện cho các yếu tố sai số, sở thích đặc thù.

Song song đó, nghiên cứu tích hợp Mô hình đầu tư vốn sức khỏe của Michael Grossman (1999) kết hợp định nghĩa toàn diện của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 1946), coi sức khỏe là một dạng vốn nhân lực đặc biệt có thể tích lũy qua chi tiêu y tế. Đồng thời, lý thuyết về vốn xã hội của Portes (1998) và Robert Putnam (2000) được đưa vào khung phân tích nhằm giải thích cách thức các mạng lưới quen biết trong ngành y tế tác động đến hành vi tìm kiếm dịch vụ. Kế thừa các mô hình thực nghiệm của Muriithi (2013) tại Kenya và Audibert (2011) tại Trung Quốc, mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ tương tác giữa 12 biến độc lập (tuổi, giới tính, học vấn, thu nhập, tôn giáo, quan hệ lao động, tình trạng sức khỏe, số người phụ thuộc, thẻ bảo hiểm y tế, vốn xã hội, điều trị nội trú và điều trị ngoại trú) với biến phụ thuộc là hành vi lựa chọn điểm cung ứng dịch vụ y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra xã hội học định lượng kết hợp thống kê mô tả chuyên sâu. Cỡ mẫu khảo sát gồm 300 người dân từ 18 tuổi trở lên sinh sống tại Thị trấn Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trực tiếp tại hộ gia đình được áp dụng thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn cấu trúc trong giai đoạn từ ngày 25/3/2015 đến ngày 20/4/2015, loại trừ hoàn toàn các hình thức khảo sát gián tiếp nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan của dữ liệu.

Phương pháp phân tích chủ đạo là mô hình hồi quy Logistic đa thức (Multinomial Logit - MNL) được xử lý trên phần mềm thống kê chuyên dụng Stata và Excel. Lý do lựa chọn mô hình Multinomial Logit xuất phát từ bản chất của biến phụ thuộc: quyết định lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh là biến định danh danh nghĩa đa danh mục gồm 5 phương án rời rạc không có thứ bậc ưu tiên tuyệt đối (Trạm y tế, Phòng khám tư nhân, Bệnh viện huyện, Bệnh viện tỉnh, Bệnh viện tuyến thành phố/trung ương). Mô hình MNL cho phép ước lượng đồng thời xác suất lựa chọn từng cơ sở thay thế dựa trên hàm thỏa dụng biên của từng thuộc tính cá nhân.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích thống kê từ 300 phiếu khảo sát ghi nhận những phát hiện mang tính quy luật rõ nét:

Thứ nhất, sự phân bổ luồng bệnh nhân có sự lệch pha nghiêm trọng khi Bệnh viện tuyến tỉnh là lựa chọn áp đảo với 70,33% (211/300 người). Ngược lại, y tế cơ sở tuyến huyện và xã bị bỏ rơi khi Trạm y tế chỉ chiếm 18,00% (54 người), Phòng khám tư nhân chiếm 5,00% (15 người), Bệnh viện huyện Thạnh Phú chỉ đạt 3,67% (11 người) và Bệnh viện tuyến thành phố/trung ương chiếm 3,00% (9 người).

Thứ hai, hành vi vượt tuyến diễn ra phổ biến ngay cả với các bệnh lý thông thường. Trong tổng số 124 người mắc bệnh cảm cúm thông thường (chiếm 41,33% tổng mẫu), có tới 70,97% (88 người) lựa chọn khám chữa bệnh trực tiếp tại Bệnh viện tỉnh, chỉ có 20,16% (25 người) đến Trạm y tế và 3,23% (4 người) đến Bệnh viện huyện. Tình trạng tương tự cũng xuất hiện ở nhóm bệnh đau đầu và sốt với hơn 61,00% người bệnh tìm đến tuyến tỉnh.

Thứ ba, đặc điểm kinh tế - xã hội định hình mạnh mẽ xu hướng lựa chọn dịch vụ. Thu nhập bình quân của mẫu nghiên cứu đạt 5,00 triệu đồng/tháng (vượt xa mức trung bình 2,60 triệu đồng/tháng của tỉnh Bến Tre năm 2014), trong đó nhóm có thu nhập từ 5 triệu đồng trở lên chiếm 30,00%. Trình độ học vấn từ Cao đẳng trở lên chiếm tỷ lệ cao đạt 52,70%. Đáng chú ý, có tới 87,88% người có trình độ từ lớp 5 trở xuống và 66,46% người có trình độ từ cao đẳng trở lên đều chọn Bệnh viện tỉnh làm điểm đến ưu tiên.

Thứ tư, các rào cản về cơ chế và mạng lưới xã hội thể hiện rõ nét qua cơ cấu mẫu: Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm Y tế chỉ đạt 20,67%, trong khi 64,00% là lao động tự do. Đồng thời, có 36,00% cá nhân có yếu tố vốn xã hội (người thân, người quen làm việc tại các cơ sở y tế), tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy việc tiếp cận các bệnh viện tuyến trên.

Thảo luận kết quả

Thực trạng hơn 70,00% người dân Thạnh Phú lựa chọn Bệnh viện tỉnh phản ánh tâm lý e ngại về chất lượng kỹ thuật và danh mục thuốc tại tuyến y tế cơ sở. Sự chuyển dịch mô hình bệnh tật từ các bệnh truyền nhiễm sang nhóm bệnh không lây nhiễm (tim mạch, huyết áp, cơ xương khớp chiếm hơn 26,00% trong mẫu) càng thúc đẩy người dân tìm kiếm các cơ sở có trang thiết bị hiện đại.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu quốc tế của Muriithi (2013) tại Kenya và Audibert (2011) tại Trung Quốc khi chỉ ra rằng khi thu nhập và học vấn gia tăng, người dân sẵn sàng chi trả chi phí đi lại để đổi lấy chất lượng y tế cao hơn. Nghiên cứu cũng củng cố nhận định của Nguyễn Thị Bích Thuận (2008) tại Việt Nam về sự suy giảm vai trò của y tế ban đầu khi thiếu cơ chế điều tiết chuyển tuyến chặt chẽ.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được biểu diễn trực quan thông qua biểu đồ cột chồng thể hiện tỷ lệ lựa chọn cơ sở y tế theo từng nhóm bệnh lý, kết hợp cùng bảng ma trận tương quan đa chiều giữa mức thu nhập, tình trạng sở hữu thẻ Bảo hiểm Y tế và xác suất vượt tuyến.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả hồi quy thực nghiệm, bốn nhóm giải pháp đồng bộ được đề xuất nhằm điều tiết phân luồng khám chữa bệnh:

Thứ nhất, nâng cao năng lực chẩn đoán và điều trị tại tuyến cơ sở. Sở Y tế tỉnh Bến Tre và Ủy ban nhân dân huyện Thạnh Phú cần đầu tư nâng cấp trang thiết bị chẩn đoán cận lâm sàng (máy siêu âm, xét nghiệm sinh hóa) cho Bệnh viện Đa khoa huyện Thạnh Phú và 18 trạm y tế trực thuộc. Mục tiêu nâng công suất sử dụng giường bệnh tuyến huyện từ 90,00% lên 98,00%, kéo giảm tỷ lệ vượt tuyến điều trị các bệnh thông thường xuống dưới 15,00% trong giai đoạn 2016-2020.

Thứ hai, cải cách chính sách Bảo hiểm Y tế và cơ chế thanh toán viện phí. Bảo hiểm Xã hội tỉnh Bến Tre cần phối hợp với các cơ quan ban ngành triển khai đề án tăng tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế toàn dân từ mức 20,67% lên tối thiểu 75,00% trên địa bàn huyện Thạnh Phú. Áp dụng quy định siết chặt thanh toán vượt tuyến ngoại trú không đúng quy định nhằm kiểm soát và giảm trừ mức thâm hụt 149 tỷ đồng chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh mỗi năm.

Thứ ba, thiết lập mô hình quản lý bệnh không lây nhiễm tại trạm y tế xã, thị trấn. Trung tâm Y tế huyện Thạnh Phú cần chuyển giao phác đồ điều trị và cấp phát thuốc định kỳ cho 80,00% bệnh nhân cao huyết áp, đái tháo đường, xương khớp ngay tại địa phương, chấm dứt tình trạng bệnh nhân mãn tính phải di chuyển lên tuyến tỉnh chỉ để nhận thuốc định kỳ.

Thứ tư, đẩy mạnh truyền thông thay đổi nhận thức cộng đồng. Phòng Y tế huyện Thạnh Phú chủ trì phối hợp với các hội đoàn thể tổ chức các chiến dịch truyền thông y tế định kỳ hàng quý, công khai minh bạch danh mục kỹ thuật và chất lượng điều trị tại y tế cơ sở. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ lựa chọn ban đầu tại Trạm y tế từ 18,00% lên 35,00% trong vòng 3 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn mang lại giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà quản lý và hoạch định chính sách y tế tại Sở Y tế tỉnh Bến Tre và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Tài liệu cung cấp cơ sở định lượng để xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới y tế địa phương, tái cấu trúc danh mục đầu tư công và thiết kế các chính sách giữ chân người bệnh tại tuyến huyện, xã.

Thứ hai, ban giám đốc các bệnh viện tuyến huyện, trung tâm y tế và phòng khám khu vực. Cung cấp dữ liệu phân tích hành vi tiêu dùng y tế để các đơn vị tự đánh giá điểm nghẽn dịch vụ, từ đó cải thiện quy trình tiếp đón, nâng cao chất lượng chuyên môn và xây dựng chiến lược thu hút bệnh nhân nội địa.

Thứ ba, cơ quan Bảo hiểm Xã hội các cấp. Tài liệu hỗ trợ đánh giá tác động của dòng bệnh nhân vượt tuyến đến cán cân quỹ khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế, từ đó tối ưu hóa công tác giám định và phân bổ nguồn quỹ khám chữa bệnh ban đầu hiệu quả.

Thứ tư, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế y tế và Quản lý công. Luận văn là tài liệu tham khảo chuẩn mực về việc ứng dụng Lý thuyết lựa chọn rời rạc của McFadden và kỹ thuật hồi quy Multinomial Logit trên phần mềm Stata trong việc giải quyết các bài toán kinh tế - xã hội thực tiễn.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh của người dân Thị trấn Thạnh Phú có đặc điểm gì nổi bật? Khảo sát 300 người dân cho thấy có tới 70,33% chọn Bệnh viện tỉnh làm nơi khám chữa bệnh chính. Trong khi đó, Trạm y tế chỉ chiếm 18,00% và Bệnh viện Đa khoa huyện Thạnh Phú chỉ đạt 3,67%, cho thấy sự mất cân đối lớn trong phân luồng bệnh nhân.

Vì sao người dân vẫn vượt tuyến lên tỉnh dù chỉ mắc các bệnh lý thông thường như cảm sốt? Có 70,97% người mắc cảm cúm thông thường vẫn lên tuyến tỉnh do tâm lý chuộng tuyến trên và sự thiếu tin tưởng vào chất lượng chẩn đoán, danh mục thuốc tại cơ sở ban đầu. Thu nhập bình quân 5 triệu đồng/tháng cũng tạo điều kiện chi trả cho việc đi lại.

Yếu tố vốn xã hội tác động như thế nào đến quyết định khám chữa bệnh của người dân? Có 36,00% người được khảo sát có người thân hoặc người quen làm việc trong ngành y tế. Mối liên hệ này giúp người dân dễ dàng tiếp cận thông tin, giảm bớt tâm lý e ngại thủ tục và trực tiếp thúc đẩy hành vi vượt tuyến lên các bệnh viện tuyến trên.

Tại sao nghiên cứu lại sử dụng mô hình hồi quy Multinomial Logit thay vì mô hình Logit thông thường? Mô hình Multinomial Logit được lựa chọn vì biến phụ thuộc bao gồm 5 lựa chọn cơ sở y tế rời rạc và không mang tính thứ bậc. Mô hình này giúp lượng hóa chính xác xác suất lựa chọn của từng phương án thay thế dưới tác động của 12 biến độc lập kinh tế - xã hội.

Hệ lụy tài chính của việc người dân vượt tuyến khám chữa bệnh tại Bến Tre là gì? Hành vi vượt tuyến khiến chi phí ngoại tỉnh của Bến Tre năm 2014 lên tới 149 tỷ đồng, chiếm 29,00% tổng quỹ Bảo hiểm Y tế địa phương. Tình trạng này vừa gây quá tải tại tuyến trên (công suất 110,00% - 118,00%), vừa gây lãng phí nguồn lực đầu tư tại tuyến huyện.

Kết luận

Nghiên cứu đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về hành vi lựa chọn cơ sở khám chữa bệnh tại Thị trấn Thạnh Phú thông qua các kết luận then chốt:

  • Tỷ lệ người dân vượt tuyến lên Bệnh viện tỉnh chiếm tỷ lệ áp đảo 70,33%, tạo ra áp lực quá tải cục bộ và làm suy giảm hiệu quả của y tế cơ sở khi Bệnh viện huyện chỉ chiếm 3,67%.
  • Hiện tượng vượt tuyến xảy ra tràn lan ngay cả với 70,97% các ca bệnh thông thường như cảm sốt, phản ánh sự suy giảm niềm tin vào chất lượng y tế ban đầu.
  • Thu nhập bình quân cải thiện đạt mức 5,00 triệu đồng/tháng cùng với 36,00% tỷ lệ sở hữu vốn xã hội là những động lực kinh tế - xã hội chính thúc đẩy dòng người bệnh lên tuyến trên.
  • Tỷ lệ tham gia Bảo hiểm Y tế thấp (20,67%) cùng với chi phí vượt tuyến ngoại tỉnh 149 tỷ đồng đang đe dọa sự bền vững của quỹ an sinh xã hội địa phương.
  • Ứng dụng thành công mô hình hồi quy Multinomial Logit trên mẫu 300 cá nhân để giải thích bản chất quyết định lựa chọn rời rạc theo lý thuyết kinh tế vi mô hiện đại.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng tin cậy để ngành y tế Bến Tre tái cấu trúc hệ thống y tế dự phòng và khám chữa bệnh ban đầu. Lộ trình hành động giai đoạn 2016-2020 cần tập trung nâng cấp năng lực chuyên môn cho y tế tuyến huyện, mở rộng tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm Y tế và siết chặt quy chế chuyển tuyến. Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác trực tiếp mô hình phân tích này để áp dụng vào các chương trình can thiệp y tế công cộng tại các địa phương có điều kiện tương đồng.