Chương 1 đã phác khảo bối cảnh kinh tế và đưa ra những luận điểm cho việc lựa chọn đề tài “Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam”. Đề tài được nghiên cứu để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các NHTMCP Việt Nam, từ đó đề xuất đánh giá, kết luận về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đối với lợi nhuận. Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp từ 25 NHTMCP từ năm 2012 đến năm 2021 và số liệu thu thập được sẽ được sử dụng thông qua phần mềm Stata. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 trình bày chi tiết cơ sở lý thuyết về lợi nhuận của ngân hàng thương mại, các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng thương mại và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến đề tài nghiên cứu.1 LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Khái niệm về lợi nhuận Lợi nhuận luôn là ƣu tiên hàng đầu mà các chuyên gia đặt mối quan tâm, từ đó ra đời nhiều nghiên cứu về sự quan trọng của lợi nhuận.
Lợi nhuận đƣợc định nghĩa là sự chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí trong một khoảng thời gian xác định. Lợi nhuận còn là thƣớc đo tƣơng đối, đề cập đến khả năng sinh lời của một tổ chức (Tulsian, 2014), bởi nó phản ánh sự thành công của một tổ chức và thể hiện cách tổ chức đó sử dụng nguồn lực của mình hiệu quả ra sao. Sự quan trọng của lợi nhuận ngân hàng trong kinh tế không chỉ đƣợc đánh giá ở mức độ vi mô, mà còn là với mức độ vĩ mô. Lợi nhuận còn là chất quan trọng chính trong sự phát triển & sinh tồn của bất kỳ tổ chức nào, bởi một ngân hàng sở hữu tốc độ tăng trƣởng lợi nhuận tích cực sẽ phản vệ rủi ro tốt hơn và đóng góp vào sự trƣờng tồn của một hệ thống tài chính (Menicucci và cộng sự, 2016).
Lợi nhuận của các ngân hàng khác nhau bởi thu nhập và chi phí. Doanh thu ngân hàng và tổng chi phí phát sinh trong khoảng thời gian nhất định đƣợc trình bày trong báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng. Quy mô của các mục chính trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân đối kế toán của ngân hàng thƣờng đƣợc gắn liền với nhau. Tài sản ghi trên bảng cân đối kế toán tạo ra phần lớn thu nhập, trong khi nợ lại tạo ra phần lớn chi phí của ngân hàng.
Ngoài doanh thu từ các khoản vay là các nguồn quan trọng khác nhƣ thu nhập từ đầu tƣ chứng khoán, hoạt động kinh doanh, v. Mặc dù doanh thu cho vay thƣờng chiếm phần lớn các nguồn thu nhập, song đây vẫn là một nguồn thu quan trọng bởi sự thay đổi nhanh chóng của nó đi đôi với sự phát triển của các dịch vụ thu phí.2 Chỉ tiêu đo lƣờng lợi nhuận của ngân hàng thƣơng mại Hiện nay, có nhiều chỉ số đƣợc vận dụng để đo lƣờng lợi nhuận của một ngân hàng. Theo Kassem & Sakr (2018), Gazi, Nahiduzzaman, Harymawan, Masud & Dhar (2022), ba chỉ số lần lƣợt là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và biên lãi ròng (NIM) là ba chỉ số đo lƣờng tốt nhất. Bên cạnh đó, Athanasoglou, Brissimis và Delis (2008) đo lƣờng lợi nhuận với hai chỉ số ROA & ROE; Farkasdi, Septiawan & Alghifari (2021) thực hiện đo lƣờng chỉ số ROE, còn ROA đƣợc đo lƣờng bởi Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2018).
ROA đƣợc xem là một chỉ số có ảnh hƣởng lớn về khả năng sinh lời của doanh nghiệp đối với tổng tài sản của một doanh nghiệp, bởi nó hoạt động nhƣ một nhà cung cấp cho các nhà nghiên cứu ý tƣởng về việc quản lý, sử dụng tài sản của mình để tăng trƣởng lợi nhuận. Chỉ số ROA càng cao, hiệu suất hoạt động càng tốt, minh chứng cho việc một ngân hàng có lợi nhuận nhiều hơn chi tiêu. Đối với ROE, đây là chỉ số đại diện cho tỷ lệ lợi nhuận hoặc lợi nhuận ròng dƣới dạng tỷ lệ phần trăm vốn cổ phần. Nó cho thấy một tổ chức có thể thu về đƣợc lƣợng lớn lợi nhuận mà các cổ đông đã đầu tƣ với số tiền ban đầu.1 Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản – ROA Tỷ số này thể hiện khả năng sinh lời trên một đơn vị tài sản của ngân hàng, là thƣớc đo hiệu suất đầu tƣ của ngân hàng bởi tất cả các tài sản đều là những khoản đầu tƣ có lãi hàng ngày ngoại trừ tiền mặt và tài sản cố định.
ROA giúp các nhà quản trị thấy đƣợc khả năng của mình trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản ngân hàng. Tỷ lệ ROA cao minh chứng lợi nhuận tốt, tài sản đƣợc cơ cấu hợp lý, chuyển đổi linh hoạt đối với các hạng mục tài sản trong khi nền kinh tế xoay chuyển. Nhìn chung, ROA giúp cho nhà phân tích xác định hiệu quả kinh doanh của một đồng tài sản. ROA lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của ngân hàng tốt.
Để có thể tăng tỷ lệ ROA, các ngân hàng phải tìm giải pháp để nâng khả năng tạo ra lợi nhuận từ các tài sản. Trong tổng tài sản, các khoản vay của khách 10 hàng là lợi nhuận chính của ngân hàng. Với mục tiêu lợi nhuận đƣợc tối đa hóa, ngân hàng đầu tƣ thêm mảng tín dụng, tuy nhiên đây cũng là rủi ro lớn nhất mà ngân hàng phải đối diện. Tóm lại, tỷ lệ ROA càng cao, mức rủi ro từ tổng tài sản càng cao.2 Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu – ROE ROE đƣợc sử dụng với mục đích đánh giá hiệu quả của việc tạo ra lợi nhuận thu đƣợc từ một đơn vị vốn chủ sở hữu.
Nếu ROE lớn hơn ROA tức đòn bẩy tài chính của ngân hàng có tác dụng theo chiều hƣớng tốt, cho thấy khả năng sử dụng vốn của ngân hàng hiệu quả. ROE đối với các cổ đông chính là yếu tố quan trọng, bởi ROE càng lớn, chứng tỏ khả năng sinh lời tốt.3 YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.1 Yếu tố nội tại 2.1 Khả năng thanh khoản Khả năng thanh khoản của ngân hàng là thƣớc đo toàn diện cho đầu ra của ngân hàng bởi nó bao gồm tài sản, vốn chủ sở hữu, nợ & sản phẩm tài chính phái sinh. Theo Berger & Sedunov (2017), thanh khoản có vai trò quan trọng không kém trong việc vận hành tài chính của các ngân hàng và các yếu tố thuộc về thanh khoản liên kết bền bỉ với nền kinh tế. Vài nghiên cứu trƣớc đã chỉ ra việc ngân hàng càng giữ nhiều tài sản thanh khoản, càng có lợi nhuận thấp hơn (Sharma, P, Gounder, N & Xiang, D., 2013; Gazi, Nahiduzzaman, Harymawan, Masud & Dhar, 2022).
Do tỷ suất lợi nhuận tƣơng đối thấp so với các tài sản khác, nhiều quỹ đầu tƣ vào tiền mặt hoặc các tài sản tƣơng đƣơng tiền mặt có xu hƣớng làm giảm phí bảo hiểm thanh khoản về biên độ lãi thuần. Trong nghiên cứu của Lê Tú (2017) liên quan đến các NHTMCP Việt Nam, tác giả cho rằng tỷ lệ tài sản lƣu động cao hơn sẽ cải thiện biên độ ngân hàng vì các ngân hàng bù đắp các chi phí bổ sung liên quan đến việc 11 sở hữu tài sản lƣu động bằng cách tính biên độ cao hơn. Thêm vào đó, các ngân hàng Việt Nam có rủi ro thanh khoản kém hơn dự kiến sẽ có lợi nhuận cao hơn. Bourke (1989) đã sử dụng tỷ số tài sản lƣu động trên tổng tài sản để đóng vai trò đo lƣờng tính thanh khoản.
Trong nghiên cứu của mình, ông đã khai thác dữ liệu từ các báo cáo tài chính của một mẫu gồm 90 ngân hàng tử 12 quốc gia trong mƣời năm từ 1972 đến 1981. Sau khi khai thác, dữ liệu cho thấy tính thanh khoản có tác động cùng chiều lên lợi nhuận, gia tăng tỷ số này sẽ giúp tăng trƣởng lợi nhuận của ngân hàng. Molyneu và Thornton (1992) đã mở rộng các phƣơng pháp luận của Bourke (1989) bằng cách vận dụng tỷ số tài sản lƣu động trên tổng tài sản để đo lƣờng rủi ro thanh khoản, thế nhƣng kết quả lại cho ra mối quan hệ ngƣợc chiều giữa tính thanh khoản với lợi nhuận trong số 18 nƣớc Châu Âu giai đoạn 1986- 1989. Sự trái chiều giữa các kết quả thực nghiệm của Molyneux và Thornton (1992) và Bourke (1989) có thể đƣợc hiểu bởi sự đối lập trong độ nhạy cảm của nhu cầu vay vốn tại các khoảng thời gian khác nhau.2 Quy mô ngân hàng Quy mô ngân hàng là khả năng sở hữu, sự đa dạng và số lƣợng tài sản hoặc dịch vụ mà ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng.
Nói cách khác, biểu thị tốt nhất về sự lớn mạnh của một ngân hàng là quy mô của một nhóm mà ngân hàng có thể quản trị hoặc quy mô tài sản mà ngân hàng sở hữu so với các ngân hàng khác cùng ngành (Sritharan, 2015). Quy mô thƣờng đƣợc tính bằng tổng doanh thu hoặc tổng giá trị tài sản, logarit của tổng tài sản, doanh thu cùng với lƣợng nhân viên. Tăng trƣởng về quy mô ngân hàng có thể là về doanh thu, lợi nhuận, tài sản hoặc số lƣợng nhân viên, tất cả chúng đều quan trọng đối với sức khỏe tài chính của một ngân hàng. Theo giả thuyết sức mạnh thị trƣờng, các ngân hàng sở hữu thị phần lớn và các sản phẩm đa dạng có thể thực hiện sức mạnh của mình trong thị trƣờng bằng việc định giá những sản phẩm đó để kiếm lợi nhuận trên mức trung bình.
Với lợi thế kinh tế nhờ quy mô, các ngân hàng có quy mô tài sản lớn sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi trong quá trình mở rộng phân phối sản phẩm, dịch vụ, tiết kiệm các chi phí trong giao dịch, từ đó có thể tăng lợi nhuận. Tuy nhiên, tính phi 12 kinh tế do quy mô có thể xuất hiện khi quy mô ngân hàng quá lớn, việc quản trị khối tài sản này đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao và tốn kém nhiều chi phi, từ đó sẽ làm giảm lợi nhuận. Nếu lợi thế kinh tế nhờ quy mô có ý nghĩa thì quan hệ giữa quy mô ngân hàng với lợi nhuận là cùng chiều (Card và cộng sự 2004). Trong khi đó, kết quả nghiên của Đào Thị Thanh Bình & Nguyễn Phƣơng Dung (2020) và Jonathan Batten & Võ Xuân Vinh (2019) lại cho kết quả rằng mối tƣơng quan nghịch giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận.3 Quy mô Vốn chủ sở hữu Nguồn vốn luôn là một trong những nguồn lực của ngân hàng.