Chương 1 – Giới thiệu. Tác giả giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu cùng: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu khóa luận. Chương 2 – Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu thực nghiệm. Nội dung chính trong phần này là trình bày các quan điểm, lý thuyết về kiệt quệ tài chính; lượt khảo các nghiên cứu trước đây liên quan đến kiệt quệ tài chính.
Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu. Đề cập cụ thể về phương pháp nghiên cứu, xử lý dữ liệu, xác định các biến độc lập để đưa ra mô hình nghiên cứu ngoài ra cũng đưa ra các kỳ vọng về dấu của các biến. Chương 4 – Kết quả nghiên cứu. Bằng phương pháp thông kê mô tả, phân tích tương quan giữa các biến số trong mô hình, trong phần này bài nghiên cứu sẽ thảo luận về kết quả đã chạy thông qua mô hình hồi quy Logit đồng thời đưa ra nhận xét trong quá trình phân tích.
Chương 5 – Kết luận và khuyến nghị. Tác giả tổng kết các kết quả đạt được trong quá trình nghiên cứu, tóm tắt các kết luận, đưa ra các mặt hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu sau này. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Lý thuyết về kiệt quệ tài chính 2.
Khái niệm về kiệt quệ tài chính Có nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra về khái niệm kiệt quệ tài chính. Tổng quan, kiệt quệ tài chính đề cập đến giai đoạn mà doanh nghiệp đối mặt với rủi ro cao về tài chính và có thể dẫn đến việc ngừng hoạt động. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về tình trạng này, nhưng vẫn chưa có định nghĩa thống nhất được chấp nhận. Vì vậy, trong một số trường hợp, tình trạng kiệt quệ tài chính của một doanh nghiệp có thể được hiểu việc doanh nghiệp sắp phá sản (Dichev, 1998).
Tuy nhiên, sự khác biệt đáng kể về bản chất và mức độ nghiêm trọng giữa kiệt quệ tài chính và phá sản là rất rõ ràng đối với doanh nghiệp. Một công ty có thể trải qua tình trạng kiệt quệ tài chính, nhưng sau đó có thể hồi phục và tránh được phá sản, trong khi một doanh nghiệp sắp phá sản thường đã trải qua kiệt quệ tài chính trước đó. Theo Wruck (1990), thì kiệt quệ tài chính là thuật ngữ thể hiện tình trạng khó khăn về tài chính khi một doanh nghiệp không có đủ dòng tiền để đảm bảo thực hiện các nghĩa vụ nợ trong thời điểm hiện tại. Opler và Titman (1994) đưa ra quan điểm rằng kiệt quệ tài chính thường gây ra tốn kém chi phí đáng kể trong việc duy trì mối quan hệ với các chủ nợ và các bên liên quan.
Do đó, khi một công ty đối diện với tình trạng này, việc tiếp cận nguồn vốn mới và chi phí vốn có thể trở nên khó khăn hơn. Platt & Platt (2002) nhấn mạnh rằng kiệt quệ tài chính là giai đoạn cuối cùng của một doanh nghiệp trong quá trình suy thoái, và dẫn đến kết thúc cuối cùng có thể là phá sản. Theo Purnanandam (2005), kiệt quệ tài chính là giai đoạn mà một công ty trải qua từ khả năng thanh toán đến mất khả năng thanh toán. Khi công ty không thể thực hiện các nghĩa vụ tài chính như thanh toán lãi vay và vốn vay đúng hạn, tình trạng kiệt quệ tài chính sẽ xuất hiện.
Theo Gertner và Schafstein (1994), một doanh nghiệp được coi là rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi lợi nhuận trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) thấp hơn chi phí lãi vay trong hai năm liên tiếp, hoặc khi EBITDA thấp hơn 80% trong một năm bất kỳ. Andrade và Kaplan (1998) cũng đề 7 cập đến việc xác định tình trạng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp thông qua việc so sánh EBITDA với chi phí lãi vay hoặc so sánh dòng tiền của doanh nghiệp với nợ dài hạn trong kỳ hiện tại, hoặc thông qua việc quan sát giá trị thị trường của doanh nghiệp bị sụt giảm. Theo Pinado (2008), một doanh nghiệp được coi là rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi hai điều kiện sau được thỏa mãn: Chi phí tài chính lớn hơn EBITDA trong hai năm liên tiếp và giá trị thị trường giảm trong hai năm liên tiếp. Theo quan điểm của Altman và Hotchkiss (2005), các doanh nghiệp gặp tình trạng kiệt quệ tài chính có thể được nhận biết thông qua bốn giai đoạn khó khăn về tài chính: thất bại, mất thanh khoản, vỡ nợ và phá sản.
Thất bại: Theo Altman và Hotchkiss (2005), một doanh nghiệp được xem là thất bại khi tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư cùng với các chỉ tiêu đánh giá tỷ suất sinh lợi liên tục thấp hơn so với các khoản đầu tư tương đương trên thị trường, hoặc khi doanh thu không đủ để chi trả cho các chi phí. Theo Wruck (1990), một doanh nghiệp được coi là thất bại khi không có đủ dòng tiền để đáp ứng các nghĩa vụ tài chính hiện tại, bao gồm việc thanh toán các khoản nợ cho nhà cung cấp, các chi phí tổn thất, không thể trả nợ và lãi vay cho các chủ nợ, cũng như các tổn thất pháp lý đang diễn ra. Trong khi đó, Alman và Hotchkiss (2006) đề xuất rằng một doanh nghiệp được coi là thất bại khi tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư thực tế đáng kể thấp hơn so với tỷ suất sinh lợi của các khoản đầu tư tương đương trên thị trường, hoặc khi doanh nghiệp không có đủ doanh thu để bù đắp chi phí và khi tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư trung bình của công ty liên tục thấp hơn chi phí sử dụng vốn. Mất thanh khoản: Một công ty gặp khó khăn về mặt tài chính thường rơi vào tình trạng mất thanh khoản (Altman và Hotchkiss, 2005).
(Shrader và Hickman, 1993) cho rằng một công ty được xem là mất thanh khoản khi không đủ khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn. Việc hoàn thành các nghĩa vụ tài chính theo hợp đồng như các khoản nợ đối với người lao động, nhà cung cấp và chủ nợ. Quan điểm về mất thanh khoản này 8 tương đương với quan điểm về thất bại của Wruck (1990). Theo Wruck, Ross và cộng sự (2003), tình trạng mất thanh khoản xuất phát từ hai nguyên nhân chính: mất thanh khoản dựa trên vốn cổ phần và mất thanh khoản do dòng tiền.
Mất thanh khoản dựa trên vốn cổ phần xảy ra khi giá trị thị trường của tài sản của doanh nghiệp thấp hơn giá trị các khoản nợ. Mất thanh khoản do dòng tiền xảy ra khi dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để chi trả các nghĩa vụ tài chính tiền mặt hiện tại, còn được gọi là mất thanh khoản kỹ thuật. Trong khi đó, Shrader và Hickman (1993) phân biệt hai loại mất thanh khoản: mất thanh khoản ngắn hạn và mất thanh khoản dài hạn. Mất thanh khoản ngắn hạn xảy ra khi dòng tiền của doanh nghiệp không đủ để đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn.
Mất thanh khoản dài hạn xảy ra khi giá trị tài sản của doanh nghiệp nhỏ hơn tổng giá trị của các nghĩa vụ tài chính. Vỡ nợ: Theo Altman và Hotchkiss (2005), vỡ nợ xảy ra khi một công ty không thể trả nợ gốc và lãi khi chúng đến hạn (vỡ nợ thanh toán), hoặc khi công ty vi phạm các điều kiện trong hợp đồng tín dụng, dẫn đến các hành động pháp lý (vỡ nợ kỹ thuật). Để tránh hiểu lầm giữa mất thanh khoản và vỡ nợ, Gilson và đồng nghiệp (1990), Altman và Hotchkiss (2006) đã phân biệt trạng thái vỡ nợ thành hai loại: vỡ nợ pháp lý và vỡ nợ kỹ thuật. Vỡ nợ pháp lý xảy ra khi một doanh nghiệp không thể thanh toán các khoản nợ đến hạn và không trả được nợ gốc và lãi.
Trong khi đó, vỡ nợ kỹ thuật liên quan đến việc doanh nghiệp vi phạm các điều kiện trong hợp đồng tín dụng. Phá sản: Phá sản là quá trình mà một doanh nghiệp không còn khả năng chi trả nợ và các nghĩa vụ tài chính khác một cách hiệu quả, doanh nghiệp trình đơn xin phá sản chính thức đến tòa án, được tòa án phê duyệt cho phá sản (Altman và Hotchkiss, 2005). Sau đó diễn biến có thể theo hai hướng: Doanh nghiệp bán tài sản để thanh lý các khoản nợ hoặc doanh nghiệp nỗ lực đề xuất các phương án nhằm tái cấu trúc vốn để phục hồi. 9 Nhìn chung, có thể xác định một doanh nghiệp đang gặp khó khăn về tài chính dựa trên những biểu hiện sau đây: Đầu tiên, doanh nghiệp không thể đáp ứng hoặc chỉ có khả năng đáp ứng một cách vô cùng khó khăn cho các nghĩa vụ tài chính với các bên nợ (thất bại tài chính).
Hơn nữa, doanh nghiệp có doanh thu không đủ để chi trả các chi phí, hoặc tỷ suất sinh lợi thực tế trên vốn đầu tư thấp hơn đáng kể so với các tỷ số của các đầu tư tương đương trên thị trường (thất bại kinh tế). Sau đó, doanh nghiệp cũng phải đối mặt với tình trạng tài chính trở nên khó khăn hơn, được gọi là mất thanh khoản. Mất thanh khoản xảy ra khi doanh nghiệp không thể tạo ra đủ dòng tiền để đảm bảo chi trả cho các nghĩa vụ tài chính hiện tại (mất thanh khoản kỹ thuật), hoặc khi giá trị thị trường của tài sản nhỏ hơn giá trị các khoản nợ (mất thanh khoản giá trị). Trong trường hợp doanh nghiệp không thể vượt qua giai đoạn mất thanh khoản này, sẽ dẫn đến việc không thể trả nợ gốc và lãi cho chủ nợ khi đến thời hạn, hoặc vi phạm các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, có thể dẫn đến tình trạng vỡ nợ.
Khi đó, doanh nghiệp sẽ buộc phải thanh lý các tài sản hoặc thực hiện tái cấu trúc sau khi tòa án phê duyệt phá sản. Do đó, giai đoạn phá sản được xem là giai đoạn cuối cùng và nghiêm trọng nhất trong quá trình kiệt quệ tài chính. Các lý thuyết kiệt quệ tài chính 2. Lý thuyết rủi ro tín dụng (Credit Risk Theory) Lý thuyết này được Merton đề xuất vào năm 1974 và sau đó được Duffee và Schaeffer cải thiện vào năm 1988.
Rủi ro tín dụng có thể dẫn đến nguy cơ phá sản hoặc từ một góc độ khác, nó có thể được định nghĩa là mức độ biến động trong giá trị các công cụ nợ do sự thay đổi trong chất lượng tín dụng tiềm ẩn của khách hàng hoặc đối tác vay nợ. Các công ty thường bán hàng trước và thu tiền sau, và việc không thu được các khoản tiền chưa trả có thể làm suy giảm thu nhập và ảnh hưởng đến tiềm năng về thanh khoản, có thể dẫn đến tình trạng kiệt quệ.