Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Nguyễn Khánh Đoan (Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, mã số 7340201) đặt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang từng bước hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu, nơi việc nâng cao chất lượng kinh doanh và gia tăng lợi nhuận của doanh nghiệp đóng vai trò then chốt cho sự tồn tại và phát triển. Vận tải biển được xác định là động lực phát triển kinh tế biển và kinh tế quốc gia, giữ vai trò cửa ngõ giao thương xuất nhập khẩu với khoảng 80% tổng khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận chuyển bằng đường biển. Ngành vận tải biển sở hữu các lợi thế cạnh tranh vượt trội so với các loại hình vận tải khác (đặc biệt là hàng không) nhờ phạm vi vận chuyển rộng, năng lực chuyên chở khối lượng lớn và chi phí thấp. Bên cạnh đó, dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng trưởng ổn định (năm 2021, số dự án FDI công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3% so với năm 2020, đạt 15.592 dự án với tổng vốn đăng ký đạt 242 tỷ USD) đã tạo lực đẩy trực tiếp cho hoạt động logistics và khai thác cảng biển. Sản lượng vận chuyển đường biển năm 2021 tăng 3,3% so với năm 2020, cùng định hướng quy hoạch phát triển hệ thống cảng biển đến năm 2030 với mục tiêu tăng trưởng công suất 6%/năm.

Trên thị trường chứng khoán Việt Nam, nhóm cổ phiếu cảng biển có mức tăng trưởng giá trị vượt bậc trong năm 2021 (tăng 94% so với năm 2020 và cao hơn 60% so với chỉ số VN-Index). Tuy nhiên, tác giả chỉ ra thực trạng phần lớn các nhà đầu tư trên thị trường vẫn ra quyết định dựa trên cảm tính, thiếu công cụ phân tích và đánh giá định lượng khoa học về các nhân tố nền tảng thực sự quyết định khả năng sinh lời của các doanh nghiệp cảng biển.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định gồm:

  • Mục tiêu tổng quát: Xác định những yếu tố và mức độ tác động của chúng lên khả năng sinh lời của doanh nghiệp cảng biển niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh cho nhóm doanh nghiệp này.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xác định được các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành cảng biển trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
    2. Đo lường mức độ ảnh hưởng của các tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành cảng biển trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
    3. Đưa ra các đề xuất hàm ý, chính sách nhằm cải thiện hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài:

  1. Yếu tố nào tác động hay không tác động đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành cảng biển trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
  2. Các yếu tố ảnh hưởng như thế nào đến khả năng sinh lời của các doanh nghiệp ngành cảng biển trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
  3. Các doanh nghiệp cần xác định và đưa ra những đề xuất gì để gia tăng hiệu quả kinh doanh?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tài chính nội tại và yếu tố kinh tế vĩ mô tác động đến khả năng sinh lời của nhóm doanh nghiệp ngành cảng biển niêm yết.
  • Phạm vi không gian: Các doanh nghiệp thuộc ngành cảng biển, vận tải và logistics niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh - HOSE và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội - HNX).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn 10 năm, từ năm 2012 đến năm 2021.
  • Tiêu chí lựa chọn mẫu: Chọn lọc các doanh nghiệp công bố đầy đủ báo cáo tài chính đã soát xét/kiểm toán liên tục; loại trừ những doanh nghiệp bị ngừng hoạt động, giải thể, phá sản hoặc thiếu hụt dữ liệu trong giai đoạn nghiên cứu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên các khái niệm và lý thuyết tài chính doanh nghiệp:

  • Khái niệm khả năng sinh lời: Dẫn chiếu quan điểm của Pandey (1980), Cohen, Chang và Ledford (1997), Lesakova (2007) và Nguyễn Văn Ngọc (2006). Khả năng sinh lời được hiểu là thước đo hiệu quả bằng tiền, phản ánh năng lực tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp từ việc sử dụng các nguồn lực tài sản, vốn chủ sở hữu và doanh thu trong một khoảng thời gian tham chiếu.
  • Chỉ tiêu đo lường: Nghiên cứu lựa chọn Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA - Return on Assets), tính bằng tỷ số giữa Lợi nhuận sau thuế (lợi nhuận ròng) và Tổng tài sản, làm biến phụ thuộc chính để đo lường hiệu quả quản trị và điều hành sản xuất kinh doanh.
  • Các lý thuyết giải thích cấu trúc tài chính và quy mô: Lý thuyết thứ bậc về cấu trúc vốn (Pecking Order Theory của Myers và Majluf, 1984), Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn (Trade-off Theory) giải thích mối quan hệ giữa đòn bẩy nợ và lá chắn thuế, Lý thuyết kinh tế nhờ quy mô và phi kinh tế theo quy mô (Goddard và cộng sự, 2005), cùng lý thuyết sản lượng - lạm phát của Keynes.
  • Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm: Tác giả hệ thống hóa các nghiên cứu quốc tế (Geroski và cs, 1997; Fu và cs, 2002; Agiomirgianakis và cs, 2006; Chander và Aggarwal, 2008; Yazdanfar, 2013; Vătavu, 2014; Alghusin, 2015; Odusanya và cs, 2018; Maleya và Willy, 2013) và các nghiên cứu tại Việt Nam (Quan Minh Nhựt, 2014; Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên, 2014; Chu Thị Thu Thủy và cs, 2015; Trần Việt Dũng, 2014) để xác định các biến giải thích đưa vào mô hình.

Khung mô hình nghiên cứu gồm 1 biến phụ thuộc và 6 biến độc lập:

Tên biến Ký hiệu Vai trò Công thức xác định Kỳ vọng dấu
Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA Biến phụ thuộc Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản -
Khả năng thanh toán LIQ Biến độc lập Tài sản ngắn hạn / Nợ ngắn hạn +
Quy mô doanh nghiệp SIZE Biến độc lập Logarit tự nhiên của Tổng tài sản (Ln(TTS)) -
Cơ cấu vốn (Đòn bẩy tài chính) LEV Biến độc lập Tổng nợ / Tổng tài sản -
Tỷ lệ tài sản cố định TANG Biến độc lập Tổng tài sản cố định / Tổng tài sản -
Tốc độ tăng trưởng GDP GDP Biến độc lập Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế hàng năm (%) +
Tỷ lệ lạm phát INF Biến độc lập Tỷ lệ lạm phát hàng năm (%) -

Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu:

  • Mẫu và nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp dạng bảng cân bằng (balanced panel data) thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán của 18 doanh nghiệp cảng biển trong 10 năm (2012 - 2021), tương ứng 180 quan sát và 1.080 dữ liệu điểm. Dữ liệu được trích xuất từ CafeF, Vietstock và hệ thống FireAnt; số liệu kinh tế vĩ mô (GDP, chỉ số giá tiêu dùng CPI/lạm phát) lấy từ Tổng cục Thống kê.
  • Công cụ xử lý: Microsoft Excel (sơ chế dữ liệu, tính toán các chỉ số trung bình) và phần mềm Stata 14.0 (thực hiện thống kê mô tả, phân tích tương quan ma trận, kiểm định đa cộng tuyến VIF, hồi quy dữ liệu bảng và kiểm định chẩn đoán mô hình).
  • Phương pháp phân tích kinh tế lượng: Quy trình hồi quy và kiểm định gồm 8 bước:
    1. Hồi quy tuyến tính bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS).
    2. Hồi quy mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
    3. Kiểm định Modified Wald để so sánh Pooled OLS và FEM.
    4. Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian Multiplier để so sánh Pooled OLS và REM.
    5. Kiểm định Hausman để so sánh và lựa chọn giữa FEM và REM.
    6. Kiểm định các khuyết tật của mô hình được chọn: kiểm định hiện tượng phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity) và kiểm định tự tương quan (autocorrelation) bằng kiểm định Wooldridge.
    7. Xử lý khuyết tật mô hình bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS - Generalized Least Squares).
    8. Thảo luận kết quả hồi quy GLS và đưa ra khuyến nghị quản trị.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương 1 thiết lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của hệ thống cảng biển trong việc tiếp nhận hơn 80% kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và sự gia tăng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Chương này công bố hệ thống 3 mục tiêu cụ thể và 3 câu hỏi nghiên cứu, xác định phạm vi nghiên cứu gồm 18 doanh nghiệp cảng biển niêm yết trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2021. Tác giả cũng nêu rõ kết cấu khóa luận gồm 5 chương chính và đóng góp thực tiễn của công trình trong việc cung cấp bằng chứng định lượng giúp các nhà quản trị, cổ đông và nhà đầu tư đưa ra quyết định tài chính dựa trên dữ liệu cập nhật.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 trình bày tổng quan các lý thuyết kinh tế và tài chính liên quan đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Tác giả phân tích các thước đo sinh lời phổ biến gồm ROA, ROE và ROS, làm rõ ưu thế của ROA trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng toàn bộ tài sản doanh nghiệp. Chương này phân chia các nhân tố ảnh hưởng thành hai nhóm: nhóm vi mô nội tại doanh nghiệp (quy mô, tính thanh khoản, cơ cấu đòn bẩy, tỷ lệ tài sản cố định) và nhóm vĩ mô bên ngoài (tăng trưởng GDP, lạm phát). Đồng thời, tác giả tổng hợp có hệ thống các công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, làm cơ sở xây dựng 6 giả thuyết nghiên cứu (H1 đến H6) về mối quan hệ giữa LIQ, SIZE, LEV, TANG, GDP, INF với ROA.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Chương 3 chi tiết hóa quy trình nghiên cứu thực nghiệm qua sơ đồ 8 bước, xác định kỹ thuật thu thập và làm sạch dữ liệu bảng từ 18 doanh nghiệp cảng biển giai đoạn 2012 - 2021 (tổng cộng 180 quan sát). Chương này giải thích chi tiết định nghĩa thao tác, công thức tính toán và kỳ vọng dấu của từng biến trong mô hình hồi quy. Tác giả cũng thiết lập các phương pháp kiểm định thống kê trên Stata 14.0, bao gồm ma trận tương quan Pearson, hệ số phóng đại phương sai (VIF), kiểm định Hausman, kiểm định Modified Wald và kiểm định tự tương quan Wooldridge, đồng thời nêu rõ cơ sở lý thuyết của việc sử dụng mô hình GLS khi mô hình dữ liệu bảng vi phạm các giả định cổ điển.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 4 cung cấp toàn bộ kết quả phân tích thống kê mô tả, ma trận tương quan và các bước kiểm định kinh tế lượng:

  • Thống kê mô tả (Bảng 4.1):
    • ROA trung bình đạt 0,092 (9,2%), độ lệch chuẩn 12,70%; giá trị cao nhất đạt 105,67% (thuộc về Công ty Cổ phần Cảng Đồng Nai - PDN năm 2020), giá trị thấp nhất là -10% (thuộc về Công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP - VNA).
    • Khả năng thanh toán (LIQ) trung bình đạt 2,11 lần; cao nhất đạt 9 lần (Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Cảng Đình Vũ - DVP), thấp nhất là 0 lần (Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam – CTCP).
    • Quy mô doanh nghiệp (SIZE) có giá trị trung bình là 6,28; tổng tài sản lớn nhất thuộc về Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam – CTCP năm 2012 (xấp xỉ 109.930 tỷ đồng) và nhỏ nhất là Công ty Cổ phần Cảng Đồng Nai năm 2020 (khoảng 151 tỷ đồng).
    • Cơ cấu vốn (LEV) trung bình là 44%; cao nhất đạt 264,06% (PDN năm 2021) và thấp nhất là 8% (DVP).
    • Tỷ lệ tài sản cố định (TANG) trung bình đạt 44,65%, độ lệch chuẩn 32%; thấp nhất là 5,89% (Tổng Công ty Cổ phần Bưu chính Viettel - VTP) và cao nhất đạt 269% (PDN).
    • Tăng trưởng GDP bình quân đạt 5,59%; tỷ lệ lạm phát (INF) bình quân đạt 3,81% (cao nhất năm 2012 đạt 9,21%, thấp nhất năm 2015 đạt 0,63%).
  • Phân tích tương quan và kiểm định đa cộng tuyến: Hệ số tương quan giữa các biến giải thích đều nhỏ hơn 0,8. Kết quả kiểm định VIF (Bảng 4.3) cho thấy hệ số VIF trung bình đạt 1,56 (biến LEV cao nhất đạt 2,959), tất cả đều nhỏ hơn 10, khẳng định mô hình không có hiện tượng đa cộng tuyến.
  • Lựa chọn mô hình hồi quy:
    • Kiểm định Modified Wald: Chi2(18) = 2342,00 (Prob > chi2 = 0,0000 < 0,05), bác bỏ H0, cho thấy mô hình FEM vượt trội hơn Pooled OLS do có hiện tượng phương sai thay đổi giữa các thực thể.
    • Kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian Multiplier: chibar2(01) = 155,12 (Prob > chibar2 = 0,0000 < 0,05), chọn REM thay vì Pooled OLS.
    • Kiểm định Hausman: chi2(6) = 7,72 (hoặc 7,2596 với Prob > chi2 = 0,2596 > 0,05), chấp nhận giả thuyết H0, kết luận mô hình REM phù hợp hơn FEM.
  • Kiểm định khuyết tật và ước lượng GLS:
    • Kiểm định Wooldridge về tự tương quan cho dữ liệu bảng (Bảng 4.9): F(1, 17) = 4,0402 với Prob > F = 0,0402 (< 0,05), bác bỏ H0, khẳng định mô hình REM tồn tại hiện tượng tự tương quan bậc một.
    • Đồng thời mô hình tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi. Tác giả tiến hành ước lượng lại bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) để khắc phục triệt để hai khuyết tật trên, mang lại kết quả ước lượng không chệch và hiệu quả.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Chương 5 tóm tắt các kết quả nghiên cứu thực nghiệm đạt được từ mô hình GLS, đối chiếu với các giả thuyết ban đầu. Trên cơ sở đó, tác giả xây dựng 4 nhóm hàm ý chính sách tài chính cho các doanh nghiệp cảng biển: quản trị thanh khoản, tối ưu hóa quy mô và chi phí quản lý, khai thác đòn bẩy tài chính hợp lý và định hướng đầu tư nâng cấp tài sản cố định. Cuối chương, tác giả chỉ ra các giới hạn của nghiên cứu và gợi ý các hướng mở rộng cho những công trình tiếp theo.

Kết quả và đóng góp

Kết quả hồi quy mô hình bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) đối với 18 doanh nghiệp cảng biển Việt Nam giai đoạn 2012 - 2021 được tổng hợp trong bảng đối chiếu sau:

Biến độc lập Tác động thực tế (GLS) Kỳ vọng ban đầu Ý nghĩa kinh tế và thực tiễn trong nghiên cứu
Khả năng thanh toán (LIQ) Cùng chiều (+) Dương (+) Doanh nghiệp duy trì khả năng thanh toán lành mạnh giúp đảm bảo dòng tiền chi trả nợ ngắn hạn, giảm rủi ro gián đoạn chuỗi vận hành dịch vụ cảng, từ đó nâng cao tỷ suất sinh lời ROA.
Quy mô doanh nghiệp (SIZE) Ngược chiều (-) Âm (-) Các doanh nghiệp cảng có quy mô tổng tài sản quá lớn gặp khó khăn trong công tác quản trị, chi phí giám sát gia tăng và kém linh hoạt trong vận hành, rơi vào tình trạng phi kinh tế theo quy mô (diseconomies of scale).
Cơ cấu vốn (LEV) Cùng chiều (+) Âm (-) Việc gia tăng sử dụng đòn bẩy tài chính tại các doanh nghiệp cảng biển giúp tận dụng tối đa lá chắn thuế từ lãi vay và bổ sung vốn mở rộng hạ tầng, đem lại lợi nhuận biên lớn hơn chi phí sử dụng nợ.
Tỷ lệ tài sản cố định (TANG) Cùng chiều (+) Âm (-) Ngành cảng mang tính thâm dụng vốn cao; doanh nghiệp đầu tư lớn vào cầu bến, kho bãi, cần cẩu hiện đại có khả năng tiếp nhận tàu tải trọng lớn, nâng cao năng suất bốc dỡ và gia tăng biên lợi nhuận.
Tốc độ tăng trưởng GDP Ngược chiều (-) Dương (+) Tăng trưởng kinh tế vĩ mô có tác động ngược chiều đến ROA trong giai đoạn nghiên cứu, phản ánh độ trễ của chu kỳ kinh tế và sự biến động phức tạp của chuỗi cung ứng toàn cầu cùng ảnh hưởng từ dịch bệnh giai đoạn 2019 - 2021.
Tỷ lệ lạm phát (INF) Ngược chiều (-) Âm (-) Lạm phát cao làm gia tăng giá cả các yếu tố đầu vào (nhiên liệu xăng dầu, chi phí điện, nhân công), gây bất ổn định giá thành và làm suy giảm trực tiếp tỷ suất sinh lời của doanh nghiệp cảng.

Các giải pháp và kiến nghị được tác giả đề xuất:

  1. Về khả năng thanh toán: Doanh nghiệp cần duy trì hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn ở ngưỡng cân bằng hợp lý (bình quân ngành quanh mức 2,11 lần). Cần lập kế hoạch quản trị dòng tiền chặt chẽ để đáp ứng nghĩa vụ nợ đúng hạn nhưng không để lượng tiền mặt nhàn rỗi quá lớn gây lãng phí chi phí cơ hội của vốn.
  2. Về quy mô doanh nghiệp: Đối với các tổng công ty, doanh nghiệp cảng biển quy mô lớn (như Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam), cần tinh gọn bộ máy quản trị, tái cấu trúc tổ chức, cắt giảm chi phí gián tiếp và nâng cao năng lực quản trị dự án nhằm triệt tiêu các tác động tiêu cực của quy mô phi kinh tế.
  3. Về cơ cấu vốn: Doanh nghiệp cảng biển cần chủ động xây dựng cơ cấu nợ vay tối ưu nhằm khai thác triệt để lá chắn thuế phục vụ việc mở rộng công suất bến bãi, đồng thời thường xuyên kiểm soát mức độ an toàn tài chính dựa trên khả năng tạo dòng tiền hoạt động thực tế.
  4. Về quản trị tài sản cố định: Tiếp tục chiến lược đầu tư chiều sâu vào công nghệ xếp dỡ, trang thiết bị cảng biển đồng bộ, nạo vét luồng hàng hải để tiếp nhận tàu trọng tải lớn; định kỳ rà soát, khấu hao và thanh lý các tài sản cố định lạc hậu để nâng cao năng suất khai thác trên mỗi đồng tài sản cố định.

Đóng góp của khóa luận:

  • Bổ sung dữ liệu thực nghiệm chuyên sâu về hiệu quả tài chính của ngành cảng biển Việt Nam trong trọn vẹn chu kỳ 10 năm (2012 - 2021), giai đoạn bao trùm cả giai đoạn phục hồi kinh tế và thời kỳ gián đoạn chuỗi cung ứng bởi dịch bệnh Covid-19.
  • Áp dụng quy trình kiểm định kinh tế lượng chặt chẽ để phát hiện các khuyết tật tự tương quan và phương sai sai số thay đổi trong mô hình REM, từ đó ứng dụng phương pháp ước lượng GLS để đưa ra hệ số hồi quy vững chắc, đáng tin cậy hơn so với phương pháp Pooled OLS truyền thống.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự xác định các hạn chế kỹ thuật và phạm vi nghiên cứu:

  • Giới hạn về quy mô mẫu: Nghiên cứu chỉ khảo sát 18 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán đáp ứng đủ điều kiện dữ liệu liên tục trong 10 năm; chưa mở rộng sang khối doanh nghiệp cảng biển chưa niêm yết hoặc các đơn vị dịch vụ logistics phụ trợ.
  • Giới hạn về chỉ tiêu sinh lời: Đề tài chỉ sử dụng duy nhất biến phụ thuộc ROA để đo lường khả năng sinh lời, chưa đánh giá đồng thời các chỉ tiêu tài chính quan trọng khác như tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất sinh lời trên doanh thu (ROS) hay hệ số giá trị doanh nghiệp (Tobin's Q).
  • Giới hạn về các biến giải thích: Mô hình mới kiểm định 6 biến độc lập cơ bản, chưa tích hợp được các chỉ tiêu hoạt động đặc thù của ngành cảng (công suất thiết kế của cầu cảng, tỷ lệ lấp đầy kho bãi bến cảng, chỉ số kết nối vận tải biển hàng hải) cũng như các biến số vĩ mô khác như lãi suất danh nghĩa, tỷ giá hối đoái.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng mẫu nghiên cứu bao gồm các doanh nghiệp cảng biển trên sàn UPCoM, các doanh nghiệp chưa niêm yết và các công ty logistics tích hợp để tăng số lượng quan sát.
  • Đưa thêm các biến phụ thuộc đa dạng (ROE, ROS, Tobin's Q) vào mô hình để phân tích toàn diện hiệu quả hoạt động dưới góc nhìn của cả chủ sở hữu và thị trường chứng khoán.
  • Bổ sung các biến kiểm soát vi mô đặc thù của dịch vụ logistics cảng biển và các chỉ số kinh tế vĩ mô về tỷ giá, biến động chi phí vận tải biển quốc tế; kéo dài giai đoạn nghiên cứu sau năm 2021 để đánh giá đầy đủ sự phục hồi của ngành sau đại dịch.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng học thuật và thực tiễn:

  • Sinh viên, học viên cao học ngành Tài chính – Ngân hàng, Quản trị Kinh doanh, Kinh tế Vận tải biển: Tài liệu là mẫu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu dữ liệu bảng (panel data) trên phần mềm Stata, đặc biệt là quy trình 8 bước từ kiểm định lựa chọn mô hình OLS/FEM/REM đến phát hiện khuyết tật và xử lý bằng phương pháp GLS.
  • Ban điều hành và nhà quản trị tài chính tại các doanh nghiệp cảng biển, kho bãi: Có thể tham khảo trực tiếp các phát hiện về mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính (LEV), tài sản cố định (TANG) và thanh khoản (LIQ) với tỷ suất sinh lời để thiết lập hạn mức nợ vay, chính sách đầu tư trang thiết bị bốc xếp và kế hoạch quản trị vốn lưu động.
  • Nhà đầu tư cá nhân và tổ chức trên thị trường chứng khoán: Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu tài chính chi tiết của 18 mã cổ phiếu ngành cảng biển giai đoạn 2012 - 2021, giúp nhà đầu tư nhìn nhận các chỉ số cơ bản cốt lõi chi phối ROA thực tế thay vì giao dịch theo cảm tính ngắn hạn.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng biến phụ thuộc và các biến độc lập nào trong mô hình hồi quy?

Khóa luận sử dụng biến phụ thuộc duy nhất là Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tính bằng Lợi nhuận ròng chia cho Tổng tài sản. Sáu biến độc lập được lựa chọn bao gồm: Khả năng thanh toán (LIQ), Quy mô doanh nghiệp (SIZE), Cơ cấu vốn (LEV), Tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản (TANG), Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế (GDP) và Tỷ lệ lạm phát hàng năm (INF).

2. Mẫu nghiên cứu của khóa luận gồm bao nhiêu doanh nghiệp và được thu thập trong giai đoạn nào?

Mẫu nghiên cứu gồm 18 doanh nghiệp cảng biển, vận tải và logistics niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam (HOSE và HNX) trong giai đoạn 10 năm liên tục từ năm 2012 đến năm 2021. Bộ dữ liệu dạng bảng cân bằng có tổng cộng 180 quan sát và 1.080 điểm dữ liệu, được trích xuất từ báo cáo tài chính hợp nhất đã kiểm toán qua CafeF, Vietstock, FireAnt và số liệu của Tổng cục Thống kê.

3. Doanh nghiệp nào có tỷ suất sinh lời (ROA) cao nhất và thấp nhất trong mẫu nghiên cứu?

Theo bảng thống kê mô tả của khóa luận, Công ty Cổ phần Cảng Đồng Nai (mã chứng khoán: PDN) ghi nhận tỷ suất ROA cao nhất ở mức 105,67% vào năm 2020. Ngược lại, Công ty Cổ phần Vận tải biển VINASHIP (mã chứng khoán: VNA) ghi nhận mức ROA thấp nhất trong giai đoạn nghiên cứu là -10%.

4. Vì sao nghiên cứu phải sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) thay vì OLS, FEM hay REM?

Sau khi thực hiện các kiểm định lựa chọn mô hình (kiểm định Wald chọn FEM thay vì OLS, kiểm định Breusch-Pagan chọn REM thay vì OLS, kiểm định Hausman cho Prob > chi2 = 0,2596 chọn mô hình REM), tác giả tiến hành kiểm tra khuyết tật của mô hình REM. Kết quả kiểm định Modified Wald và Breusch-Pagan phát hiện phương sai sai số thay đổi (heteroskedasticity), đồng thời kiểm định Wooldridge cho giá trị Prob > F = 0,0402 (< 0,05) khẳng định mô hình tồn tại tự tương quan bậc một. Do đó, các ước lượng từ OLS, FEM và REM không còn hiệu quả; tác giả bắt buộc phải áp dụng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS) để khắc phục triệt để các khuyết tật này.

5. Kết quả hồi quy GLS chỉ ra những yếu tố nào tác động cùng chiều và ngược chiều đến ROA của doanh nghiệp cảng biển?

Kết quả ước lượng GLS cho thấy:

  • Tác động cùng chiều (+): Khả năng thanh toán (LIQ), Cơ cấu vốn (LEV) và Tỷ lệ tài sản cố định (TANG).
  • Tác động ngược chiều (-): Quy mô doanh nghiệp (SIZE), Tốc độ tăng trưởng GDP và Tỷ lệ lạm phát (INF).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Trần Nguyễn Khánh Đoan đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm định lượng có hệ thống về các nhân tố tác động đến khả năng sinh lời (ROA) của 18 doanh nghiệp ngành cảng biển niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2012 - 2021. Thông qua quy trình phân tích dữ liệu bảng kết hợp các bước kiểm định khuyết tật mô hình chặt chẽ và ứng dụng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất tổng quát (GLS), đề tài đã chỉ ra tác động thúc đẩy sinh lời của khả năng thanh toán, đòn bẩy tài chính và đầu tư tài sản cố định, đồng thời xác nhận tác động kìm hãm của quy mô phình to, lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Các kết quả này cung cấp luận cứ định lượng vững chắc giúp các nhà quản trị doanh nghiệp cảng biển hoạch định chiến lược cấu trúc vốn và quy mô tài sản tối ưu, đồng thời mang lại nguồn tham khảo phương pháp luận giá trị cho người nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng.