Chương 1 đã trình bày khái quát các nội dung nghiên cứu, câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, công cụ nghiên cứu sẽ được sử dụng trong đề tài và tổ chức xây dựng luận văn. Nhằm xác định những yếu tố ảnh hưởng lên khả năng sinh lời của các doanh nghiệp lĩnh vực cảng biển trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn 2012 - 2021, đề tài đã xác định mục tiêu nghiên cứu và xây dựng 3 câu hỏi nghiên cứu trên. Để giải đáp những câu hỏi trên, chương 2 tác giả sẽ đưa ra một số căn cứ lý luận chứng minh khả năng sinh lợi nhuận, các yếu tố liên quan lên khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp lĩnh vực cảng biển và trích lược kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây đây làm nền tảng để xây dựng mục tiêu nghiên cứu ở chương 3. 10 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Cơ sở lý thuyết và khả năng sinh lời 2.1 Khả năng sinh lời của doanh nghiệp Theo Pandey (1980), “Khả năng sinh lời là khả năng kiếm được lợi nhuận của một doanh nghiệp.
Khả năng sinh lời diễn giải lợi nhuận liên quan đến các yếu tố khác. Khả năng sinh lời phân tích các biện pháp và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được liên quan đến đầu tư của các cổ đông hoặc vốn được sử dụng trong doanh nghiệp hoặc liên quan đến doanh thu”. Cohen, Chang và Ledford (1997) đo lường khả năng sinh lợi của công ty bằng cách sử dụng ROA (Return on Assets). Tác giả đã chỉ ra rằng lợi tức trên tài sản (ROA) thường được các nhà đầu tư tài chính sử dụng nhiều nhất như một thước đo lường hiệu quả tài chính vì nó nêu lên được hiệu quả của công ty trong việc tạo ra lợi nhuận.
Các số liệu khác được sử dụng phổ biến nhất trong ngành tài chính là lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROA) (McGuire và cộng sự, 1988; Stanwick và Stanwick, 2000; Clarkson và cộng sự, 2008), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) (Bowman và Haire, 1975) và doanh thu việc bán hàng (ROS) (Stanwick và Stanwick, 1998). Theo Nguyễn Văn Ngọc (2006), “Khả năng sinh lời (profitability) là thước đo hiệu quả bằng tiền, là điều kiện cần nhưng chưa đủ để duy trì cân bằng tài chính. Việc đánh giá khả năng sinh lời phải dựa trên một khoảng thời gian tham chiếu. Khả niệm khả năng sinh lời được áp dụng trong mọi hoạt động kinh tế sử dụng các phương tiện vật chất, con người và tài chính, thể hiện bằng kết quả trên phương tiện.
Khả năng sinh lời có thể áp dụng cho một hoặc một tập hợp tài sản. Ở cấp độ doanh nghiệp, khả năng sinh lời là kết quả của việc sử dụng tập hợp các tài sản vật chất và tài sản tài chính, tức là vốn kinh tế mà doanh nghiệp nắm giữ. Nhìn chung, khả năng sinh lời cần ít nhất đủ 11 để đáp ứng được hai đòi hỏi cấp bách là đảm bảo duy trì vốn cho doanh nghiệp (đầu tư) và trả được các khoản lãi vay và đảm bảo hoàn trả khoản vay”. Malik (2011) cho rằng lợi nhuận là một trong những thước đo và mục tiêu lớn nhất của quản lý tài chính.
Mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa tài sản của chủ sở hữu, và lợi nhuận là yếu tố quyết định hiệu quả. Khả năng sinh lời có liên quan chặt chẽ với khả năng sinh lời mà không có nhiều khác biệt. Mặc dù số tiền thắng cược là những khoản tiền lớn nhưng cơ hội sinh lời là có hạn. Lợi nhuận là thước đo hữu hiệu cho sự thành công hay thất bại của một công ty.2 Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh lời của doanh nghiệp Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận ít được sử dụng làm thước đo khả năng sinh lời của công ty, vì nó nói lên sự liên quan giữa lợi nhuận và chi phí thực tế, có thể thấy tại hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp thông qua hành động để áp dụng các chỉ tiêu này.
Theo Lesakova (2007), “Tỷ suất sinh lời là thước đo tình trạng tài chính của một công ty có lành mạnh hay không và nó giúp công ty quản lý tài sản hiệu quả như thế nào. Hai tỷ suất sinh lợi được sử dụng: lợi nhuận trên bảng cân đối kế toán ROA và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE”. Các nghiên cứu sử dụng ROA để đo lường khả năng sinh lời của công ty bao gồm Goddard, Tavakoli và Wilson (2005), Malik (2011), Odusanya, Yinusa và Ilo (2018), Yazdanfar (2013). Lợi nhuận trên tài sản là thước đo đo lường khả năng sinh lợi của công ty liên quan đến giá trị thương hiệu của nó.
Chỉ tiêu ROA mô tả hiệu quả của quá trình quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của công ty. Kết quả mục tiêu cho biết trung bình mỗi đô la tài sản được sử dụng trong kinh doanh kiếm được bao nhiêu lợi nhuận. Do đó, tỷ số này cho thấy công ty sử dụng tài sản của mình hiệu quả như thế nào để tạo ra lợi nhuận. Ngoài khả năng sinh lời, ROE cũng là một thước đo thường thấy dùng để đánh giá khả năng sinh lời của công ty Alarussi & Alhaderi (2018); Chander và Aggarwal 12 (2008).
ROE phản ánh khả năng sử dụng vốn để tạo ra lợi nhuận thông qua các quá trình kinh doanh của công ty. Phân tích dựa vào thu nhập trên mỗi cổ phiếu cho thấy mỗi đô la một cổ phiếu kiếm được bao nhiêu lợi nhuận sau thuế doanh nghiệp. Việc đánh giá tỷ lệ này rất quan trọng trong việc xác định mục tiêu kinh doanh của nhà điều hành, đó là tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối đa hóa vốn.2 Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp Dựa vào các bài nghiên cứu trước đây đã phân biệt ra được các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận cho các công ty. Nhóm nhân tố thứ nhất tập trung vào các tác động bề ngoài, được chia thành hai chỉ số khác nhau: chỉ số cấp ngành và chỉ số cấp vĩ mô.
Trong khi đó, chỉ số cấp ngành bao gồm mức độ tập trung thị trường, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng đầu tư, trong khi chỉ số cấp vĩ mô bao gồm tốc độ tăng trưởng GDP trong nước, tỷ giá hối đoái và tỷ lệ lạm phát, hoạt động của thị trường tài chính (Grau và Reig, 2018; Pattitoni, Petracci và Spisni, 2014). Nhóm thứ hai bao gồm các yếu tố khách quan như cú sốc tài chính, quản lý tài chính, đủ tài chính, hiệu quả tài chính, thanh khoản, quy mô công ty, tăng trưởng, cơ cấu vốn, tuổi công ty và nhiều vấn đề quản lý khác (Anbar và Alper, 2011; Aburime, 2009; lažková, 2018; Capon, Farley và Hoenig, 1990; Grau và Reig, 2018; Huang và Song, 2006). Đoàn Thị Thu Hà và cộng sự (2019) cho rằng, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của doanh nghiệp. Trong đó cơ cấu tài chính là nhân tố có ảnh hưởng trọng yếu đến quy mô hoạt động và hiệu quả tài chính của công ty.
Cấu trúc tài chính của một công ty có tác động đáng kể đến khả năng thực hiện các kế hoạch, kết quả tài chính và tăng trưởng kinh doanh dài hạn của công ty. Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả cấu trúc tài chính của các công ty, có nhiều báo cáo trong nước còn liên quan đến các yếu tố khác ảnh hưởng đến kết quả hoạt động tài chính của các công ty. Tuỳ theo mức độ và khối lượng nghiên cứu khác nhau mà chiều ảnh hưởng của từng nhân tố đến HQKT là khác nhau. Các yếu tố điển hình mà nhiều nhà nghiên cứu 13 trong lĩnh vực này tập trung vào trong nghiên cứu của họ là: (1) thời hạn kinh doanh; (2) giao dịch trên sàn chứng khoán; (3) trình độ học vấn của người lái xe; (4) giới tính của giám đốc và cán bộ; (5) Quy mô công ty; (6) cấu trúc hoạt động; (7) Suất đầu tư cố định; (8) quan hệ xã hội; (9) tốc độ tăng thu nhập; (10) Tỷ lệ sở hữu cổ phần và vốn cổ phần; (11) Tỷ lệ chi phí bán hàng và tiếp thị trên tổng chi phí; (12) Thực tiễn địa phương, chính trị vĩ mô,.
Quy mô doanh nghiệp: trong một thị trường tập trung, quy mô doanh nghiệp càng lớn thì lợi nhuận dựa trên quy mô kinh tế càng lớn Malik (2011), Yazdanfar (2013), Vătavu (2014), AlGhusin (2015), Alarussi và Alhaderi (2018). Nhưng khi các công ty này phát triển, việc quản lý chúng trở nên khó khăn hơn và tốn nhiều chi phí hơn. Sẽ có lúc nền kinh tế nhờ quy mô không hoạt động, khi tăng năng suất vượt quá nhu cầu thị trường và không cho phép tăng lợi nhuận (Goddard và cộng sự, 2005). Thời gian hoạt động: Các công ty có thời hạn dài có danh tiếng tốt, kinh nghiệm quản lý và điều hành phong phú, đồng thời có khả năng giảm chi phí sản xuất và quản lý để kiếm được nhiều lợi nhuận hơn (Chander và Aggarwal, 2008; Quan và Ly, 2014).
Tuy nhiên, Agiomirgianakis, Voulgaris và Papadogonas (2006), Yazdanfar (2013) tìm thấy mối tương quan sơ bộ giữa thời gian hoạt động và lợi nhuận của công ty. Điều này có thể giải thích là do các doanh nghiệp mới nhanh nhạy hơn và dễ thay đổi để phù hợp với thị trường hơn, trong khi một số doanh nghiệp lâu đời chưa thể thích ứng hoàn toàn với thị trường thời gian dài để thay đổi cơ cấu sản xuất hoặc công nghệ. Nguyễn Thị Ngọc Lan và Nguyễn Văn Công (2020) nêu tên ba yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của các công ty. Thứ nhất, các yếu tố chính của công ty: quy mô công ty, tính thanh khoản, khả năng thanh toán dài hạn và đòn bẩy tài chính, bảo toàn vốn.
Thứ hai, các yếu tố miền bao gồm: sở thích kinh doanh, niềm tin của khách hàng, sự tập trung hoặc phân khúc và quyền sở hữu. Thứ ba, các yếu tố vĩ mô bao gồm: Tốc độ tăng trưởng GDP, lạm phát kỳ vọng, lãi suất và giá cả theo thời gian. 14 Tăng trưởng: Tăng trưởng tăng cho thấy sự mở rộng của doanh nghiệp và có thể thấy thu nhập, tài sản và lợi nhuận của công ty tăng lên. Các công ty có tài sản lớn hơn sẽ có nhiều lợi nhuận hơn và các công ty lớn hơn có khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn (Agiomirgianakis và cộng sự, 2006; Yazdanfar, 2013).
Tuy nhiên, nghiên cứu cho thấy mối quan hệ mâu thuẫn giữa tăng trưởng và lợi nhuận (Glancey, 1998). Nếu tăng trưởng chậm lại, các công ty sẽ phải tăng chi phí.