Chương 1 cũng trình bày mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu cũng như ý nghĩa và kết cấu luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Các khái niệm: Kết quả làm việc: Khái niệm và định nghĩa về kết quả làm việc đã được các nhà nghiên cứu chú ý từ 15 đến 20 năm trước .Lý thuyết về kết quả làm việc hiện nay còn nhiều tranh luận nhưng lý thuyết về thực hiện kết quả làm việc của Campbell vẫn được xem là có ảnh hưởng lớn nhất ( Sonnetag,2001). Kết quả làm việc của một cá nhân phải được phân thành 2 khía cạnh: khía cạnh hành vi và khiến cạnh kết quả của hành động. Khía cạnh hành vi nói về những việc cá nhân thực hiện trong công việc như lắp ráp động cơ xe hơi, bán máy tính cá nhân, dạy kỹ năng đọc cho trẻ em tiểu học hay thực hiện một ca mổ tim.
Ở đây chỉ xem xét những hành động liên quan đến mục tiêu tổ chức ( Sonnetag, 2001). Theo Campbell và ctg ( 1993) 8 kết quả chỉ xem xét những việc tổ chức thuê chúng ta để làm và làm tốt nó. Hơn nữa chỉ những hành động có thể được đo lường mới xem xét là kết quả làm việc( Campbellvà ctg 1993). Khía cạnh kết quả nói đến kết quả của những hành vi của cá nhân.
Hành động sẽ dẫn đến kết quả như những ví dụ ở trên kết quả ở đây là số động cơ lắp ráp được, mức độ thành thạo đọc của học sinh, số lượng máy tính cá nhân bán được hay số ca mổ tim thành công. Hai khía cạnh này có sự liên quan nhau nhưng không trùng lắp ( Sonnetag, 2001). Khía cạnh kết quả phụ thuộc vào những yếu tố khác so với hành vi. Chúng ta có thể xem xét ví dụ dưới đây để hiểu rõ hơn về hai khía cạnh này.
Kết quả làm việc của nhân viên là việc hoàn thành những công việc theo yêu cầu và quy định của công ty.1 Lý thuyết về kết quả làm việc : Theo Campbell (1990) được trích trong kết quả làm việc được đề nghị bởi 8 nhân tố sau: • Làm việc chuyên môn ( Task specific behaviors): bao gồm những hành động mà một cá nhân phải thực hiện. • Làm việc không chuyên môn ( non-task specific behaviors): bao gồm những hành động cần phải thực hiện nhưng không gắn liền với một công việc cụ thể nào. Lấy ví dụ ở trên, nhân viên bán hàng làm việc bán điện thoại di động đến khách hàng là làm việc chuyên môn, còn việc đào tạo nhân viên mới kỹ năng bán hàng là công việc không chuyên môn. • Công việc truyền thông nói và viết: Là những hành động mà người nhân viên được đánh giá không chỉ thông qua nội dung mà còn qua sự thành thạo mà cá nhân thể hiện.
Nhân viên cần thực hiện rất nhiều sự biểu hiện có thể bằng cách nói hoặc viết trong nhiều loại công việc khác nhau. • Nỗ lực( Effort): Kết quả làm việc có thể đánh giá qua nỗ lực ngày này qua ngày khác của nhân viên hoặc trong một tình huống đặc biệt. Yếu tố này phản ánh sự cam kết của nhân viên với công việc. • Kỷ luật cá nhân (Personal Discipline): Nhân viên tuân thủ những quy định của công ty đưa ra • Tương tác với đồng nghiệp( facilitating peer and team performance) Nó bao gồm việc hướng dẫn, giúp đỡ đồng nghiệp, hành động như một hình mẫu tốt.
• Khả năng giám sát, lãnh đạo: Cá nhân sẽ dựa vào để thực hiện những việc được mô tả dưới những yếu tố trước đó. Hơn nữa cá nhân còn phải chịu trách nhiệm cho việc khen thưởng và xử phạt. • Khả năng quản trị: Nhiệm vụ này sẽ thiết lập mục tiêu tổ chức và có sự điều chỉnh cho phù hợp với các yếu tố bên ngoài. Các cấp quản lý phải chị trách nhiệm giám sát nhóm và cá nhân hướng đến những mục tiêu và quản lý nguồn lực của tổ chức.
8 Ngoài ra, khái niệm về kết quả làm việc là một khái niệm đa hướng (Sonnentag, 2001). Kết quả theo nhiệm vụ thể hiện những công việc mang tính đặc thù như việc chuyển nguyên liệu thành hàng hóa, hoạt động giảng dạy trong nhà trường, phẫu thuật trong bệnh viện… Kết quả trong bối cảnh nói đến hành vi đóng góp của cá nhân vào hiệu quả của tổ chức. Trong tám yếu tố ảnh hưởng đến kết quả làm việc được đề xuất trong Campbell (1990)có năm yếu tố liên quan đến kết quả theo nhiệm vụ là :làm việc chuyên môn, làm việc không chuyên môn, công việc truyền thông nói và viết, khả năng giám sát, lãnh đạo, khả năng quản trị theo (Campbell và ctg,1996).Trong mỗi yếu tố có chứa những yếu tố phụ có thể thay đổi tùy vào loại công việc.2 Các lý thuyết về sự thỏa mãn công việc Nghiên cứu này đưa ra các lý thuyết về động viên bởi vì các lý thuyết về động viên giúp tạo ra sự thỏa mãn trong công việc ( job satisfaction). Theo Brown và Peterson (1993), kết quả làm việc là nhân tố chính tác động đến sự thỏa mãn trong công việc.
Và theo John (2002), thì giữa kết quả làm việc và sự thỏa mãn trong công việc có mối quan hệ với nhau.Đây cũng là kết quả của nghiên cứu Christen (2006). Theo Rehman (2011), sự thỏa mãn công việc là một thái độ đối với công việc của nhân viên, giữa phần thưởng họ nhận được so với phần họ mong muốn nhận được. Cũng theo Rehman (2011), sự thỏa mãn công việc là mối quan hệ giữa cá nhân và môi trường làm việc. Sự thỏa mãn công việc sẽ tăng lên nếu nhân viên thích công việc và môi trường làm việc.1 Thuyết nhu cầu của Maslow Nói đến sự thỏa mãn nói chung người ta thường nhắc đến lý thuyết nhu cầu cấp bậc của Maslow.
Theo thuyết của Maslow được trích trong , nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ thấp đến cao, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối 9 với sự tồn tại và phát triển của con người. Cấp bậc nhu cầu được sắp xếp theo năm bậc thứ tự sau: sinh lý, an toàn, xã hội, tự trọng và tự thể hiện Đây là lý thuyết về nhu cầu con ngươi và nó đang được xem xét trong nghiên cứu này. Bởi vì nhu cầu cá nhân của nhân viên được đáp ứng thì họ mới có động lực và tinh thần làm việc. Các nhu cầu trong lý thuyết này đều được đề cập dưới các biến độc lập như nhu cầu sinh học và nhu cầu an toàn có thể được thực hiện ở các biến đo lường về thu nhập, trợ cấp, phúc lợi… Tương tự, nhu cầu xã hội và nhu cầu được tôn trọng sẽ biểu hiện qua các biến về mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp.Và nhu cầu tự khẳng định chính là sự tự chủ trong công việc của người nhân viên khi làm một việc được giao.2 Thuyết thành tựu của McClelland Lý thuyết của tập trung vào ba loại nhu cầu của con người: nhu cầu về thành tựu, nhu cầu về quyền lực và nhu cầu về liên minh.
Chúng được định nghĩa như sau (Robbins, 2002) • Nhu cầu về thành tựu là sự cố gắng để xuất sắc, để đạt được thành tựu đối với bộchuẩn mực nào đó, nổ lực để thành công. • Nhu cầu về quyền lực là nhu cầu khiến người khác cư xử theo cách họ mong muốn. • Nhu cầu về liên minh là mong muốn có được các mối quan hệ thân thiện và gầngũi với người khác. Nhu cầu thành tựu của McClelland được thể hiện trong nghiên cứu này dưới dạng đặc điểm công việc.Công việc cần được thiết kế sao cho nhân viên đạt được “thành tựu” họ mong muốn.Còn nhu cầu liên minh được thể hiện ở mối quan hệ với cấptrên và đồng nghiệp.
Thuyết hai nhân tố của Herzberg ( 1959): Thuyết này chia các nhân tố làm hai loại: các nhân tố động viên và các nhân tố duytrì. Các nhân tố động viên gồm thành tựu, sự công nhận của người khác, bản chất công việc, trách nhiệm công việc, sự thăng tiến và sự tiến bộ, và triển vọng của sựphát triển.Nếu 10 nhân viên được đáp ứng sẽ mang lại sự thỏa mãn trong công việc cho họ, ngược lại nhân viên sẽ không có sự thỏa mãn. Các nhân tố duy trì gồm chính sách công ty, sự giám sát của cấp trên, lương bổng, mối quan hệ với cấp trên và đồng nghiệp, điều kiện làm việc, đời sống cá nhân, vị trí công việc và sự đảm bảo của công việc. Nếu được đáp ứng sẽ không có sự bất mãn trong công việc,ngược lại sẽ dẫn đến sự bất mãn.
Do đó việc động viên người lao động đòi hỏi phải tiến hành cả hai yếu tố duy trì và động viên ( Nguyễn Hữu Lam, 2007).5 Thuyết kỳ vọng của Vroom (1964) Vroom được trích trong Nguyễn Hữu Lam (2007)cho rằng hành vi và động cơ làm việc của con người không nhất thiết đượcquyết định bởi hiện thực mà nó được quyết định bởi nhận thức của con người vềnhững kỳ vọng của họ trong tương lai. Lý thuyết này xoay quanh ba mối quan hệ cơ bản bao gồm: • Expectancy (kỳ vọng): là niềm tin rằng nỗ lực sẽ dẫn đến kết quả tốt. Khái niệm này được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa nỗ lực (effort) và kết quả (performance). • Instrumentality (tính chất công cụ): là niềm tin rằng kết quả tốt sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đáng.
Khái niệm này được thể hiện qua mối quan hệ giữa kết quả (performance) và phần thưởng (outcome/rewards). • Valence (hóa trị): là mức độ quan trọng của phần thưởng đối với người thực hiện công việc. Khái niệm này được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa phần thưởng (rewards) và mục tiêu cá nhân (personal goals). 11 Vroom cho rằng người nhân viên chỉ được động viên khi nhận thức của họ về cả ba khái niệm hay ba mối quan hệ trên là tích cực.
Nói các khác là khi họ tin rằng nỗlực của họ sẽ cho ra kết quả tốt hơn, kết quả đó sẽ dẫn đến phần thưởng xứng đángvà phần thưởng đó có ý nghĩa và phù hợp với mục tiêu cá nhân của họ. Lý thuyết này được áp dụng vào nghiên cứu này như sau khi nhân viên nhận thức được những đóng góp của họ sẽ được tưởng thưởng xứng đáng thì họ sẽ nỗ lực hướng đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức. Muốn kết quả làm việc của nhân viên tốt thì phải giúp họ có môi trường làm việc tốt, hài lòng với sự hỗ trợ của cấp trên và cải thiện mối quan hệ với đồng nghiệp.