mở đầu, đưa ra cái nhìn tổng quan về đề tài nghiên cứu bao gồm lý do lựa chọn đề tài, các mục tiêu nghiên cứu cần đạt được cũng như đặt ra câu hỏi mà nghiên cứu phải giải quyết. Trình bày sơ lược về phương pháp nghiên cứu, đối tượng, phạm vi mà nghiên cứu hướng đến, khái quát bố cục của khóa luận. Đây là cơ sở, phương hướng để tiến hành thực hiện những bước nghiên cứu tiếp theo. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2.
Khái niệm hệ số an toàn vốn Theo Bank for International Settlements (2019), “hệ số an toàn vốn đo lường vốn của ngân hàng liên quan đến tài sản rủi ro. Tỷ lệ vốn trên tài sản có trọng số rủi ro thúc đẩy vốn hóa mạnh và khả năng phục hồi tài chính của các ngân hàng trên thế giới để chống lại các cú sốc và khủng hoảng kinh tế tài chính.” Hệ số an toàn vốn CAR (Capital Adequacy Ratio) là tỷ lệ giữa vốn và tài sản rủi ro của ngân hàng, được sử dụng để xem xét khả năng thanh toán các khoản nợ và khả năng ứng phó với rủi ro tín dụng cũng như rủi ro hoạt động của ngân hàng, phản ánh mức độ an toàn vốn của ngân hàng. Một ngân hàng sở hữu CAR tốt sẽ có đủ vốn để bù đắp những khoản lỗ tiềm ẩn, thể hiện rằng ngân hàng đó ít có nguy cơ rủi ro thanh toán và người gửi tiền cũng ít gặp rủi ro hơn. Khung Basel là bộ tiêu chuẩn đầy đủ của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS), là cơ quan thiết lập tiêu chuẩn toàn cầu cơ bản cho các quy định về an toàn của ngân hàng và cung cấp một diễn đàn hợp tác thường xuyên về các vấn đề giám sát ngân hàng.
Qua từng năm, Uỷ ban Basel đã phát triển một loạt các tiêu chuẩn nhằm tăng cường khả năng phục hồi của hệ thống ngân hàng toàn cầu và mới nhất là Basel III được ban hành năm 2010. Là một trong các tiêu chuẩn được sử dụng để đánh giá mức độ an toàn vốn của ngân hàng, hệ số CAR xuất hiện trong Basel I năm 1988. Cụ thể, quy định về hệ số an toàn vốn đã có sự điều chỉnh qua các phiên bản Basel như sau: • Trong Basel I: Tập trung yêu cầu các NHTM duy trì hệ số CAR tối thiểu là 8% trên tổng tài sản rủi ro. • Trong Basel II: Mở rộng hơn so với Basel I, Basel II bổ sung thêm ba trụ cột yêu cầu về vốn và quy trình giám sát, thông tin công khai.
Trong đó hệ số an 8 toàn vốn được nhấn mạnh phải đi kèm với việc quản lý các loại rủi ro khác bên cạnh rủi ro tín dụng như rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. • Trong Basel III: Cùng với cải thiện các quy định liên quan vốn và thanh khoản, Basel III yêu cầu các ngân hàng duy trì hệ số an toàn vốn tối thiểu 8%, bổ sung các yêu cầu về tỷ lệ vốn cấp 1 và tỷ lệ thanh khoản. Áp dụng hệ số an toàn vốn ở Việt Nam Thông tư 36/2014/TT-NHNN được ban hành vào 20/11/2014 quy định TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cần duy trì thường xuyên hệ số an toàn vốn tối thiểu ở mức 9%. Về hệ số CAR, Thông tư bổ sung quy định xác định giá trị thực của vốn điều lệ, vốn được cấp; Các cấu phần vốn, phương pháp tính và cách tính, duy trì tỷ lệ này được quy định cụ thể, chi tiết thành phục lục để dễ thực hiện, giám sát, kiểm tra.
Tháng 12/2016, NHNN đã ban hành Thông tư 41/2016/TT-NHNN, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2020. Thông tư hướng đến chuẩn Basel II, có những thay đổi so với các thông tư trước: Hệ số CAR được điều chính từ 9% xuống còn 8%, bên cạnh thêm yêu cầu vốn đối với phía rủi ro tín dụng còn bổ sung thêm yêu các cầu vốn cho rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. Đo lường hệ số an toàn vốn Nhìn chung, tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng được tính bằng tỷ lệ vốn tự có của ngân hàng trên tổng tài sản có rủi ro. Trong đó vốn tự có bao gồm vốn cấp 1 và vốn cấp 2.
Vốn cấp 1 là nguồn vốn cốt lõi của ngân hàng, bao gồm vốn điều lệ và các quỹ dự trữ cũng như phần lợi nhuận không chia. Vốn cấp 2 là thước đo tiềm lực tài chính của một ngân hàng liên quan đến các dạng nguồn lực tài chính có độ tin cậy ở hàng thứ hai sau vốn cấp 1. Vốn cấp 2 được chỉ định là vốn bổ sung và bao gồm các khoản mục như dự trữ định giá lại, dự trữ chưa công bố, nợ thứ cấp có kì hạn. Qua từng năm, Uỷ ban Basel đã có những sự chỉnh sửa nhất định về cách đo lường hệ số CAR.
So với Basel I, những thay đổi mới được điều chỉnh trong Basel II khi không chỉ sử dụng rủi ro tín dụng mà còn thêm vào cả rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường. 9 Ở Basel II và Basel III đều quy định hệ số an toàn vốn giữ ở mức tối thiểu là 8%. Tuy nhiên, chuẩn Basel III có yêu cầu cao hơn về chất lượng vốn của ngân hàng khi tỷ lệ vốn cấp I được yêu cầu tăng từ 4% lên 6%, còn tỷ lệ vốn của cổ đông thường thì nâng từ 2% lên 4%. Tại Việt Nam, dựa trên Thông tư 41/2016/TT-NHNN, hệ số CAR tính theo đơn vị phần trăm (%) được tính toán theo công thức sau: C CAR = × 100% (2.1) RWA+12,5 (𝐾𝑂𝑅 +𝐾𝑀𝑅 ) Trong đó: C là vốn tự có, bao gồm tổng Vốn cấp 1 và Vốn cấp 2 trừ đi các khoản giảm trừ theo quy định.
RWA: tổng tài sản tính theo rủi ro tín dụng KOR: vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động KMR: vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường 2. Ý nghĩa hệ số an toàn vốn Hệ số an toàn vốn CAR đóng vai trò là một trong bộ tiêu chuẩn những chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hoạt động an toàn vốn, quản trị rủi ro của các NHTM nói riêng và toàn hệ thống NHTM nói chung. Trong quá trình kinh tế toàn cầu hội nhập, việc đảm bảo và cải thiện tỷ lệ vốn tối thiểu theo quy định giúp ngân hàng tiếp cận gần hơn với các chuẩn mực quốc tể, nâng cao uy tín và năng lực cạnh tranh. Hệ số an toàn vốn được xác định bởi hai thành phần quan trọng của ngân hàng là vốn tự có và tài sản có rủi ro.
Vốn tự có tuy chiếm tỉ trọng không lớn trong tổng số vốn nhưng có tính ổn định cao, mang tính chất quyết định sự tồn tại và phát triển của một ngân hàng. Còn tài sản có rủi ro thể hiện mức độ rủi ro của các khoản tín dụng được cấp bởi ngân hàng đó. Việc theo dõi và xem xét hệ số CAR của từng ngân hàng giúp người gửi tiền, các nhà đầu tư có sự so sánh, cân nhắc việc lựa chọn gửi tiền hoặc đầu tư vào ngân hàng đó. Theo Võ Hồng Đức và cộng sự (2014), “hệ số an toàn 10 vốn giúp nhà đầu tư có thể xác định được khả năng của ngân hàng trong việc thanh toán các khoản nợ có thời hạn, báo hiệu cho cho người gửi tiền trước những rủi ro của ngân hàng.” Thêm vào đó, hệ số an toàn vốn là công cụ đắc lực để cơ quan quản lý thực hiện giám sát hoạt động của các ngân hàng, kiểm tra, đánh giá những chỉ tiêu an toàn, hiệu quả sử dụng vốn và đảm bảo an toàn vốn.
Theo BIS, “cơ quan giám sát đặt ra các yêu cầu về an toàn vốn một cách thận trọng và phù hợp cho các ngân hàng nhằm phản ánh những rủi ro do ngân hàng đó gánh chịu và gây ra trong bối cảnh thị trường và các điều kiện kinh tế vĩ mô mà ngân hàng đó hoạt động. Tối thiểu đối với các ngân hàng quốc tế, yêu cầu về vốn không được thấp hơn tiêu chuẩn Basel hiện hành.” Quản lý, theo dõi kiểm soát hoạt động các ngân hàng một cách chặt chẽ sẽ giúp cho toàn hệ thống phát triển, từ đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế vĩ mô chung. Một số yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn 2. Yếu tố vi mô thuộc ngân hàng 2.
Quy mô tổng tài sản của ngân hàng Tài sản của ngân hàng được hình thành trong quá trình ngân hàng sử dụng vốn, ngân hàng có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt hợp pháp. Quy mô tài sản ngân hàng được xem xét từ giá trị tổng tài sản của ngân hàng đó. Quy mô tổng tài sản được xem là một trong những yếu tố không thể thiếu để các ngân hàng tăng sự cạnh tranh, nâng cao tiềm lực và hiệu quả tài chính. Ở nước ta, việc gia tăng quy mô ngân hàng được Nhà nước coi trọng và đề cập trong các “đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng”.
Đã có nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng có mỗi quan hệ cùng chiều hoặc ngược chiều giữa quy mô tài sản của ngân hàng và hệ số an toàn vốn như nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Hương (2021), Ali Shingjergji và Marsida Hyseni (2015), Nadja Dreca (2014), Nguyễn Kim Chi (2018), Yahaya và cộng sự (2016). Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản ROA đo lường hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra doanh thu. Ngân hàng có tỷ suất sinh lời cao cho thấy ngân hàng 11 đó đang tận dụng tài sản hợp lý, có khả năng tạo ra lợi nhuận. Tỷ lệ ROA là một trong các chỉ số phổ biến khi xem xét khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động, đánh giá kết quả tài chính của các ngân hàng, trên cơ sở kết hợp giữa kết quả kinh doanh và nguồn lực sử dụng.
Một số nghiên cứu trước đã chỉ ra khả năng sinh lời của ngân hàng có khả năng ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn. “Các ngân hàng có lợi nhuận cao, được đo bằng ROA, có hệ số CAR cao hơn”, (Melita Charitou, 2019). Theo Dreca (2014), “có mối quan hệ tiêu cực giữa tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản và hệ số an toàn vốn. Tỷ lệ đòn bẩy tài chính Đòn bẩy tài chính thể hiện mức độ sử dụng vốn vay trong tổng nguồn vốn của ngân hàng.