Chương 1: Chuan mực về an toàn hoạt động ngân hang áp dụng phố biến trên thé giới Chương 2: Thực trạng áp dụng hệ số an toàn vốn tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện việc áp dụng hệ số an toàn vốn tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam Nội dung chỉ tiết từng chương như sau: CHUONG 1: CHUAN MUC VE AN TOAN HOAT ĐỘNG NGAN HÀNG ÁP DUNG PHO BIEN TREN THE GIỚI 1.1 Tổng quan về chuẩn mực an toàn hoạt động ngân hang 1.1 Sự ra đời của hệ thống chuẩn mực Basel Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một trong năm ủy ban quan trọng của Ngân hàng thanh toán quốc tế được thành lập như một Ủy ban về thông lệ và thực hiện giám sát an toàn hoạt động ngân hàng bởi ngân hàng trung ương thuộc chính phủ của 10 nước thuộc nhóm G-10 vào cuối năm 1974 — sau sự rối loạn nghiêm trọng trên thị trường tiền tệ và ngân hàng (đáng chú ý là sự kiện phá sản của Ngân hàng Bankhaus Herstatt ở Tây Đức). Cuộc họp đầu tiên của Ủy ban được diễn ra vào tháng 02/1975 và từ đó các cuộc họp được tổ chức thường niên 3 hoặc 4 lần/năm. Hiện tại Ủy ban Basel có 27 thành viên gồm: Argentina, Australia, Brazil, Canada, Trung Quốc, Pháp, Đức, đặc khu Hong Kong, An độ, Indonesia, Y, Nhat, Han Quốc, Luxembourg, Mexico, Hà Lan, Nga, Saudi Arabia, Singapore, Nam Phi, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Anh và Mỹ. Các nước thành viên được đại diện bởi các ngân hàng trung ương của họ hoặc người chịu trách nhiệm chính về giám sát và kinh doanh ngân hàng với những nước không có ngân hàng trung ương.
Ủy ban cung cấp một diễn đàn hợp tác thường xuyên giữa các nước thành viên trong các vấn đề giám sát hoạt động ngân hàng. Ban đầu, Ủy ban thảo luận các phương thức cho hop tác quốc tế dé thu hẹp khoảng cách trong mạng lưới giám sát, sau đó mục đích được mở rộng hơn là nâng cao sự hiểu biết và chất lượng của việc giám sát hoạt động ngân hàng trên thế giới. Ủy ban theo đuôi mục đích trên theo ba cách chính: i. Trao đôi các thông tin vê những sắp xêp trong mạng lưới giám sát cap quôc gia; il.
Tang cường tính hiệu qua của các kỹ thuật được sử dụng trong việc giám sát các hoạt động ngân hàng quốc tế; iii, Đặt ra các tiêu chuẩn giám sat tối thiểu ở những lĩnh vực cần thiết. Ủy ban không có bất kỳ quyền hạn giám sát quốc gia chính thức nào, những kết luận được Ủy ban đưa ra không mang tính bắt buộc về mặt pháp luật. Thay vào đó Ủy ban đưa ra các tiêu chuẩn chung, những hướng dẫn thực hiện và các hình mẫu thực hiện hiệu quả nhất với hi vọng các nhà chức trách của từng quốc gia thành viên sẽ từng bước thực hiện thông qua các sắp xếp cụ thé tùy theo hệ thống pháp luật của từng nước. Bằng cách này Ủy ban khuyến khích các nước thành viên hướng tới cách thức thực hiện các tiêu chuẩn chung mà không cần phải can thiệp tới kỹ thuật giám sát chỉ tiết của từng quốc gia.2 Sự phát triển của hệ thong chuẩn mực Basel Ké từ khi thành lập, Uy ban liên tục nghiên cứu, phát triển các hệ thống chuẩn mực nhằm đưa ra những chuẩn mực đáp ứng kịp thời nhất các yêu cầu về quan ly rủi ro dé giảm thiểu các rủi ro trong hệ thống tài chính, ngân hàng đối với các nước trong Uy ban cũng như hệ thống tài chính, ngân hàng trên thé giới.
Tháng 5/1983 Ủy ban đưa ra văn bản: Các nguyên tắc về giám sát việc thành lập các ngân hàng nước ngoài trong đó đưa ra các nguyên tắc cho việc chia sẻ trách nhiệm giữa ban giám sát của ngân hang mẹ ở nước ngoai va ban giám sát của nước sở tại trong việc giảm sát các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các chi nhánh phụ thuộc và phan vốn đầu tư. Mục tiêu quan trọng của các nguyên tắc này là thu hẹp khoảng cách giữa các mạng lưới giám sát của hệ thống ngân hàng trên thế giới nhằm đạt được 2 nguyên tắc cơ bản là: không một ngân hàng nước ngoài nào được thành lập mà không có sự giám sát và cần phải có sự giám sát hợp lý. Đây là phiên bản đã chỉnh sửa từ một văn bản đã được đưa ra vào năm 1975 có tên là “Bản giao ước” (“Concordat”). Bản giao ước nay đã được mở rộng và chỉnh sửa lại dựa trên những thay đổi của thị trường và kết hợp nguyên tắc của hội giám sát ngân hàng quốc tế thống nhất (nguyên tắc này được đưa ra năm 1978).
Tháng 4/1990 phần bồ sung của giao ước chỉnh sửa năm 1983 đã được phát hành nhằm cải thiện luồng thông tin giữa các nhà giám sát ở các nước. Tháng 6/1992 một vài nguyên tắc của “Bản giao ước” trên được chỉnh sửa lại và được đưa ra thành các “tiêu chuẩn tối thiêu” (Minimum Standards), những tiêu chuẩn này đã được gửi tới các nhà chức trách giám sát hoạt động ngân hàng khác để được xác nhận và tháng 7/1992 “Bản tiêu chuẩn tối thiểu” đã được ban hành. Chủ đề mà Ủy ban đã giành phần lớn thời gian nghiên cứu là vấn đề vốn tối thiêu. Đầu năm 1980 Ủy ban đã quan ngại về việc tỷ lệ vốn của các ngân hàng quốc tế chính đang giảm đi cùng thời điểm những rủi ro quốc tế tăng lên đặc biệt là những rủi ro liên quan đến các nước có tỷ lệ nợ lớn.
Được sự ủng hộ của nhóm các nhà lãnh dao của 10 nước thành viên, các thành viên của Ủy ban này đã đưa ra các phương án nhằm tạm thời ngăn sự thất thoát vốn tiêu chuẩn trong hệ thống ngân hàng của họ và hướng tới sự thống nhất cao hơn trong việc xác định vốn tối thiểu. Họ đã có được sự nhất trí cao về phương pháp trọng số để đo lường các rủi ro nội bảng và ngoại bảng. Uy ban đã nhận ra sự cấp thiết phải có một hiệp ước đa quốc gia nhằm tăng cường sự ôn định của hoạt động hệ thống ngân hàng quốc tế và xóa bỏ sự cạnh tranh bat bình đăng do những khác biệt trong yêu cầu vốn gây ra. Sau những nhận định về bản tư vấn được phát hành tháng 12/1987, một hệ thống đo lường vốn được gọi là: Hiệp ước vốn Basel (hoặc là “hiệp ước 1988”) (thường được gọi là Basel I) đã được thông qua bởi nhóm G-10 và được giới thiệu đến các ngân hàng vào tháng 7/1988.
Hệ thống nay cung cấp khung yêu cầu với tỷ lệ vốn tối thiểu là vốn/tài sản Có đã tính đến rủi ro tín dụng qua các trọng số rủi ro là 8% vào cuối năm 1992. Ké từ năm 1988, khung này đã được liên tục giới thiệu không chỉ với các nước thành viên mà còn với tất cả các nước có sự hoạt động của ngân hàng quốc tế. Khung vốn năm 1988 không phải được đưa ra như một khung cố định mà sẽ thay đổi theo thời gian. Tháng 11/1991 nó được chỉnh sửa, đưa ra định nghĩa chính xác hơn về dự phòng chung các khoản vay bị mất, khoản này được tính đến khi tính vốn tiêu chuẩn.
Tháng 4/1995, Ủy ban đã phát hành một bản chỉnh sửa của Basel I có hiệu lực vào cuối năm 1995. Trọng tâm của “Hiệp ước 1988” là Ủy ban đã tiến hành cải thiện khung trước đó: đề cập tới những rủi ro khác ngoài rủi ro tín dụng. Tháng 01/1996, sau hai phiên tham vấn, Ủy ban cũng đã phát hành “Bản điều chỉnh rủi ro thị trường” của “Hiệp ước vốn Basel”, có hiệu lực chậm nhất là vào năm 1997. Bản điều chỉnh này được thiết kế nhằm liên kết trong phạm vi hiệp ước này những quy định về vốn đối với những rủi ro thị trường phát sinh từ ngân hàng có vị thế mở trong kinh doanh ngoại hối, mua bán chứng khoán nợ, vốn chủ sở hữu, hàng hóa, quyền chọn.
Sau những thảo luận với các ngân hàng, nhóm ngành va các cơ quan giám sát không phải thành viên của Ủy ban, Basel II đã được ban hành vào ngày 26/6/2004. Tài liệu này có thé làm cơ sở cho các quá trình phê duyệt và xây dựng luật lệ quốc gia về giám sát hoạt động ngân hàng và gợi ý cho các ngân hàng chuẩn bị thực hiện theo tiêu chuẩn mới. Tháng 7/2009, Ủy ban đã phát hành một gói tài liệu để củng cô khung vốn của Basel II, đặc biệt là đối với những vấn đề về tình trạng chứng khoán hóa phức tạp, các tai sản ngoại bang và mua bán rủi ro. Các tài liệu này cũng đã bao quát được các khía cạnh chính của việc quản lý rủi ro và mở ra nội dung của trụ cột 2 va tru cột 3 trong cua Basel II.
Sự mở rộng nay là một phần nỗ lực mà Uy ban đã tiến hành dé làm mạnh các quy định và kiểm soát các hoạt động quốc tế của các ngân hàng, làm sáng rõ những điểm yếu bị khai lộ bởi cuộc khủng hoảng thị trường tài chính toàn cầu bắt đầu năm 2007. Những công bố 10 của Ủy ban năm 2008 về tính thanh khoản và giá trị phát hành riêng biệt phản ánh một phần những nỗ lực đó, nhưng những phát triển cao hơn về các khía cạnh khác vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu. Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 — 2009, Ủy ban đã phát triển khung tiêu chuẩn vốn mới, thường được gọi là Basel III. Basel III đã được các nhà lãnh đạo G-20 thông qua tại Hàn Quốc và cuối năm 2010.
Đây là bộ tiêu chuẩn vốn quốc tế với các sửa đổi nhằm tăng cường việc đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng. Với bộ tiêu chuẩn mới này, Ủy ban hy vọng sẽ giúp giảm xác suất vỡ nợ của các ngân hàng trong chu kỳ khủng hoảng. Quá trình hình thành phát triển của hệ thống chuẩn mực Basel có thể tóm tắt trong bảng sau: Bảng 1.1: Các mốc ban hành và thời điểm hiệu lực các hiệp ước Basel Moc ban hành Thời gian bắt đầu áp dụng Basel I 1988 1992 Basel H 2004 2006 Basel II 2010 01/2013 - 01/2019 (Nguôn: tổng hợp thông tin từ trang web: www.2 Nội dung cơ bản của hệ số an toàn vốn theo chuẩn mực Basel 1.1 Nội dung của hệ số an toàn vốn theo Basel I Sau 13 năm ké từ ngày thành lập, tháng 12/1987 Ủy ban Basel đã thông qua hiệp ước đa quôc gia dau tiên: Hiệp ước von tiêu chuân quôc tê Basel I. Nội dung cơ bản của Basel I nhắn mạnh khung đo lường rủi ro tín dụng với hệ số an toàn vốn (CAR).