CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về hành vi mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng 1. Thương mại điện tử và hành vi mua hàng trực tuyến Khái niệm thương mại điện tử Trong nền kinh tế hiện đại ngày nay có khá nhiều khái niệm về Thương mại điện tử. Thương mại điện tử, hay còn gọi là e-commerce, e-comm hay EC, là sự mua bán sản phẩm hay dịch vụ trên các hệ thống điện tử như Internet và các mạng máy tính (Rosen, Anita, 2000, tr.
Không chỉ dừng lại ở mua bán sản phẩm hay dịch vụ, TMĐT ngày nay được mở rộng thêm cả về thông tin và thanh toán. TMÐT được định nghĩa là “việc giao hàng hóa, dịch vụ, thông tin và thanh toán thông qua mạng máy tính hoặc qua thiết bị điện tử khác” (Turban et al., 2006) Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”. Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật số và công nghệ thông tin ngày nay, TMĐT dần trở thành hình thức thương mại cạnh tranh với thương mại truyền thống, nơi mà người mua người bán phải gặp mặt nhau để giao dịch. Con người có thể trao đổi mua bán từ sản phẩm có giá trị nhỏ nhất tới những sản phẩm giá trị lớn, ví dụ như bất động sản, hay những sản phẩm vô hình ví dụ như cơ sở dữ liệu hoặc thông tin.
Đặc biệt, đại dịch Covid-19 xảy ra trên thế giới là thời điểm thế giới chứng kiến nhu cầu về TMĐT gia tăng và sự tăng trưởng về khối lượng mua sắm trực tuyến của tất cả các ngành hàng. Khái niệm hành vi người tiêu dùng: Hành vi người tiêu dùng phản ánh tổng thể các quyết định của người tiêu dùng đối với việc thu nhận, tiêu dùng, loại bỏ hàng hóa, bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hoạt 12 động, ý tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định (con người) theo thời gian (Nguyễn Xuân Lãn et al., 2010) “Hành vi người tiêu dùng là toàn bộ hành động mà người tiêu dùng bộc lộ ra trong quá trình trao đổi sản phẩm, bao gồm: điều tra, mua sắm, sử dụng, đánh giá và xử lý thải bỏ sản phẩm và dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu của họ” (Leon G. Schiffman và Leslie Lazar Kanuk, 1997). Khái niệm hành vi mua hàng trực tuyến Mua hàng trực tuyến là một hình thức của TMĐT.
“Mua sắm trực tuyến đuợc định nghĩa là dịch vụ mà nguời tiêu dùng sử dụng các thiết bị điện tử có kết nối Internet để giao dịch mua sắm” (Turban et al. Cơ sở lý thuyết về hành vi mua hàng trực tuyến của người tiêu dùng Cơ sở lý thuyết mà tác giả tham khảo bao gồm 7 mô hình phổ biến về HVMH trực tuyến của người tiêu dùng, đó là: - Mô hình hành vi người tiêu dùng của Phillip Kotler - Mô hình Thuyết hành động hợp lý (TRA) - Mô hình Thuyết hành vi dự định (TPB) - Mô hình Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) - Mô hình Thuyết nhận thức rủi ro (TPR) - Mô hình chấp nhận thương mại điện tử (e-CAM) - Mô hình chấp nhận công nghệ hợp nhất (UTAUT) Cụ thể từng mô hình như sau: 13 Mô hình hành vi người tiêu dùng của Phillip Kotler Các yếu tố Các tác nhân "Hộp đen ý thức của Những phản ứng kích thích của kích thích người mua" đáp lại của Marketing khác người mua - Hàng hóa - Môi trường Các đặc Quá trình - Lựa chọn hàng - Giá cả kinh tế tính của quyết hóa - Phân phối - Khoa học người định mua - Lựa chọn nhãn - Khuyến mãi kỹ thuật tiêu dùng hàng hiệu - Chính trị - Lựa chọn nhà - Văn hóa cung cấp - Lựa chọn số lượng mua Hình 1. Mô hình chi tiết về hành vi của người mua của Phillip Kotler Nguồn: Phillip Kotler, 2002 Theo mô hình này, tồn tại các yếu tố kích thích của marketing và các tác nhân kích thích khác tác động đến người mua thông qua "Hộp đen ý thức", sau đó mới chuyển thành những phản ứng đáp lại của người mua. “Các yếu tố kích thích của marketing gồm hàng hóa, giá cả, phân phối và khuyến mãi.
Các tác nhân kích thích khác là các tác nhân của môi truờng kinh tế, khoa học kỹ thuật, chính trị, văn hóa. "Hộp đen ý thức của nguời mua" bao gồm các đặc tính của nguời tiêu dùng và quá trình quyết định mua hàng. Ðặc tính của nguời tiêu dùng bao gồm các đặc tính về văn hóa, xã hội, cá tính, tâm lý. Quá trình quyết định mua hàng là một tiến trình từ nhận thức vấn đề, tìm kiếm thông tin đến đánh giá, quyết định và hành vi mua hàng.
Sau cùng, "Hộp đen ý thức của người mua" tạo ra những phản ứng đáp lại của nguời mua chính là việc nguời mua lựa chọn hàng hóa, nhãn hiệu, thời gian, địa điểm và số luợng” (Phillip Kotler, 2002). 14 Mô hình Thuyết hành động hợp lý (TRA) Hình 1. Thuyết hành động hợp lý (TRA) Nguồn: Leon G. Schiffman và Leslie Lazar Kanuk, 1997 Mô hình TRA cho ta thấy xu huớng hành vi là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi của nguời tiêu dùng.
Xu hướng hành vi bị ảnh hưởng bởi 2 yếu tố đó là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng. Thái độ thể hiện đánh giá tổng thể của con nguời về một điều gì đó dựa trên một tập hợp các liên tuởng kết nối với thái độ. “Thái độ được đo luờng bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm. Nguời tiêu dùng sẽ chú ý dến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau” (Leon G.
Schiffman và Leslie Lazar Kanuk, 1997). “Chuẩn chủ quan thể hiện mức độ ảnh huởng của những nguời xung quanh lên dự định hành vi của một cá nhân. Những nguời khác nhau có mức độ ảnh huởng khác nhau lên một cá nhân nào đó” (Leon G. Schiffman và Leslie Lazar Kanuk, 1997).
15 Mô hình Thuyết hành vi dự định (TPB) Hình 1. Lý thuyết hành vi dự định (TPB) Nguồn: Ajzen Icek, 1991 Mô hình này giải thích rằng lý thuyết hành động hợp lý TRA gồm 2 yếu tố thái độ đối với hành vi và chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng và lý thuyết này bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của nguời tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát được (Ajzen Icek, 1991). Do đó, tác giả mô hình đã phát triển thành Lý thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior) thông qua việc bổ sung thêm yếu tố về nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình. “Thái độ về phía hành vi, Chuẩn chủ quan và Nhận thức kiểm soát hành vi thôi thúc người mua đưa ra dự định hành vi, và sau cùng là hành vi.
Ðiều này phụ phuộc vào các nguồn lực sẵn có và các cơ hội để có thể thực hiện hành vi” (Ajzen Icek, 1991). 16 Mô hình Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) Tin tưởng Thái độ Thành phần hành vi (Thành phần nhận thức) (Thành phần cảm tính) Nhận thức sự hữu ích Các biến Thái độ Ý định Sử dụng hệ bên hướng đến hành vi thống thực sự ngoài sử dụng Nhận thức tính dễ sử dụng Hình 1. Lý thuyết chấp nhận công nghệ (TAM) Nguồn: Davis và cộng sự, 1989 Davis cùng các cộng sự xây dựng Mô hình TAM dựa trên sự hiệu chỉnh và phát triển từ thuyết hành động hợp lý TRA. Mô hình ở hình 1.4 được rút gọn so với nguyên mẫu mô hình TAM ban đầu, giải thích sâu hơn vào hành vi chấp nhận và sử dụng công nghệ của người mua.
Mô hình xuất hiện thêm 02 yếu tố có tác động trực tiếp ảnh hưởng đến thái độ của người sử dụng là Nhận thức hữu ích và Nhận thức sự dễ sử dụng. “Nhận thức hữu ích đã được định nghĩa giống như là mức độ mà một người tin rằng khi sử dụng một hệ thống cụ thể nào đó có thể nâng cao hiệu suất công việc của mình. Nhận thức tính dễ sử dụng tức là mức độ mà người tiêu dùng tin tưởng rằng hệ thống đó không hề khó sử dụng và có thể đạt được nhiều lợi ích trên cả sự mong đợi. Nhân tố biến bên ngoài góp một phần quan trọng trong việc giải thích hành vi chấp nhận sử dụng của người dùng, tác động trực tiếp đến nhân tố Nhận thức hữu ích và Nhận thức sự dễ sử dụng” (Davis, 1989) 17 Mô hình Thuyết nhận thức rủi ro (TPR) Nhận thức rủi ro liên quan đến giao dịch trực tuyến Hành vi mua Nhận thức rủi ro liên quan đến sản phẩm, dịch vụ Hình 1.
Thuyết nhận thức rủi ro (TPR) Nguồn: Bauer, 1960 Mô hình nhận thức rủi ro (NTRR) giải thích 2 yếu tố tác động đến HVMH của người tiêu dùng đó là: NTRR liên quan đến giao dịch trực tuyến và NTRR liên quan đến sản phẩm/dịch vụ. NTRR liên quan đến giao dịch trực tuyến bao gồm: “các rủi ro có thể xảy ra khi nguời tiêu dùng thực hiện giao dịch thương mại điện tử trên các phương tiện – thiết bị điện tử liên quan đến: sự bí mật, sự an toàn - chứng thực, không khuớc từ, và nhận thức rủi ro toàn bộ về giao dịch trực tuyến” (Bauer, 1960). NTRR liên quan đến sản phẩm/dịch vụ bao gồm: “các dạng nhận thức rủi ro bao gồm mất tính năng, mất tài chính, tốn thời gian, mất cơ hội và nhận thức rủi ro toàn bộ với sản phẩm/dịch vụ (tổng của nhận thức bất định hoặc băn khoăn của nguời tiêu dùng khi mua sản phẩm, dịch vụ)” (Bauer, 1960). 18 Mô hình chấp nhận thương mại điện tử (e-CAM) Hình 1.
Mô hình chấp nhận thương mại điện tử (e-CAM) Nguồn: Joongho Ahn và cộng sự, 2001 Khi TMĐT mới được phát minh và ngày càng phổ biến thì nhận được rất nhiều sự chú ý nghiên cứu về sự chấp nhận thương mại điện tử của người tiêu dùng. Lý thuyết về chấp nhận sử dụng thương mại điện tử (e-CAM) đuợc xây dựng bằng cách kết hợp giữa thuyết nhận thức rủi ro TPR của tác giả Bauer và mô hình TAM của tác giả Davis. 2 quốc gia Hàn Quốc và Mỹ là 2 thị trường được tác giả thực nghiệm mô hình e-CAM này. 19 Mô hình chấp nhận công nghệ hợp nhất (UTAUT) Hình 1.