CHƯƠNG 1 Trong chương này, để có cái nhìn tổng quan về đề tài. Tác giả đã tóm lược các nội dung của từng chương trong khóa luận thông qua các phần cụ thể như mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp và nội dung nghiên cứu cũng như đưa ra được đóng góp và bố cục cho đề tài. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN GIÁ CỔ PHIẾU CỦA DOANH NGHIỆP 2. TỔNG QUAN VỀ GIÁ CỔ PHIẾU Cổ phiếu là một loại đầu tư có thể mang lại lợi nhuận dựa trên hiệu suất kinh doanh của công ty phát hành.
Theo quy định trong Luật Doanh nghiệp 2020, cổ phiếu là giấy chứng nhận do công ty cổ phần phát hành, được ghi nhận trong sổ sách hoặc dữ liệu điện tử để xác nhận quyền sở hữu cổ phần của công ty đó. Chỉ có công ty cổ phần mới có thể phát hành cổ phiếu. Để sở hữu cổ phiếu, nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu với giá niêm yết trên TTCK vào thời điểm đó. Theo Warren Buffet (1997), định nghĩa giá cổ phiếu như sau: “Giá của cổ phiếu là sự thống nhất về số tiền mà một nhóm người có hiểu biết sẽ trả cho nó.
Giá được xác định bởi yếu tố cung cầu của thị trường, nhiều yếu tố khác trên thị trường và cả hiệu quả hoạt động của công ty phát hành cổ phiếu, vị thế cạnh tranh của bản thân cổ phiếu công ty đó, vị thế của nó trong ngành, tình trạnh ngành của cổ phiếu đó, nền kinh tế tổng thể và nhiều thứ khác nữa. Từ đó, có thể thấy giá cổ phiếu bao gồm hai giá trị là chỉ số giá mà các nhà giao dịch phải trả để sở hữu nó và giá trị nội tại của cổ phiếu gắn liền với giá trị của công ty phát hành cổ phiếu. Hai chỉ số giá này thông thường sẽ không giống nhau. Chỉ số giá thị trường dùng để chi trả để sở hữu cổ phiếu được xác định chủ yếu bởi cung cầu và xu hướng của thị trường.
Trong khi giá trị nội tại của cổ phiếu được xác định gắn liên với các chỉ tiêu liên quan đến hiệu quả hoạt động của DN (EPS,ROA,ROE, v. Ngoài ra, bên cạnh giá thị trường, giá sổ sách của cổ phiếu được quy định rõ ràng theo Luật chứng khoán 2019 được gọi là mệnh giá cổ phiếu. Trong bộ luật có quy định: “Mệnh giá cổ phiếu là giá trị của một cổ phiếu được ghi nhận trên sổ sách kế toán của công ty đại chúng, được ấn định theo quyết định của Hội đồng quản trị và phải được nêu rõ trong tài liệu thông tin công bố. Nói chung, mệnh giá cổ phiếu là một giá trị cố định không bị tác động bởi các yếu tố trên thị trường được xác định dựa trên quyết định của các ban lãnh đạo của công ty phát hành cổ phiếu.
8 Theo Luật chứng khoán 2019, có quy định về cách phân loại các cổ phiếu khác nhau dựa trên các tiêu chí đánh giá khác nhau. Tuy nhiên, hai loại cổ phiếu phổ biến hay thấy trên các BCTC, BCTN, v.v… chính là cổ phiếu thường và cổ phiếu phổ thông được quy định trong bộ luật như sau: - Cổ phiếu thường: Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thường có quyền tự do chuyển nhượng, quyền biểu quyết đối với các quyết định của Đại hội cổ đông, được hưởng cổ tức theo kết quả kinh doanh và giá trị cổ phiếu nắm giữ - Cổ phiếu ưu đãi: Các cổ đông bị hạn chế như lợi tức ổn định, không có quyền bầu cử, ứng cử. Tuy nhiên các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi luôn được ưu tiên chi trả cổ tức, kể cả khi công ty bị phá sản, các cổ đông này cũng được ưu tiên trả trước rồi mới đến các cổ phiếu thường. Ngành hàng tiêu dùng gồm hai phân ngành lớn theo tiêu chí phân ngành GICS là ngành hàng tiêu dùng thiết yếu và không thiết yếu.
Đối với ngành hàng tiêu dùng không thiết yếu, phân ngành GICS liệt kê một số ngành cụ thể như là ô tô và linh kiện, hàng gia dụng lâu bền, sản phẩm giải trí và dệt may. Còn về ngành hàng tiêu dùng thiết yếu được phân ngành GICS phân bổ gồm các ngành như sản xuất và phân phối thực phẩm, đồ uống, thuốc lá và các sản phẩm cá nhân. Nhìn chung, ngành hàng tiêu dùng là ngành sản xuất các loại sản phẩm mà khách hàng sử dụng cho nhu cầu cá nhân. NHTD đóng vai trò quan trọng và thiết yếu trong đời sống hằng ngày nói chung và NHTD thiết yếu nói riêng.
Tuy nhiên, trong giai đoạn nghiên cứu, do ảnh hưởng của dịch covid – 19, sự tăng trưởng của NHTD suy giảm và chỉ có dấu hiệu hồi phục, tăng trưởng trở lại trong giai đoạn từ 2022 trở đi, khi đại dịch đã qua đi và nền kinh tế toàn quốc đang phục hồi. LÝ THUYẾT LIÊN QUAN 2. Thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả lần đầu tiên được công bố trong nghiên cứu của Eugene Fama vào năm 1970. Sau đó, rất nhiều sách sau này sử dụng lý thuyết làm cơ sở lý luận để phân tích nhiều vấn đề trong thị trường tài chính.
Trong đó, cuốn “Đầu tư tài chính” của Zvi Bodie, Alex Kane, and Alan Marcus đã cung cấp các kiến thức 9 từ cơ bản đến nâng cao về đầu tư tài chính nói chung và cả lý thuyết thị trường hiệu quả nói riêng. Giả thuyết thị trường hiệu quả là một lý thuyết trong lĩnh vực tài chính khẳng định rằng thị trường tài chính hoạt động hiệu quả. Từ đó, không thể thu được lợi nhuận bằng cách dựa vào thông tin đã biết hoặc biến động giá cả trong quá khứ. Lý thuyết này có ba phiên bản: weak form, semi-strong form và strong form.
Weak form cho rằng giá chứng khoán phản ánh đầy đủ thông tin đã công bố trong quá khứ. Semi-strong form cho rằng giá chứng khoán đã ảnh hưởng đầy đủ từ thông tin công bố trong quá khứ và gần đây. Người đầu tư không thể mua rẻ và bán đắt chứng khoán dựa trên thông tin đã biết vì giá đã điều chỉnh ngay sau khi thông tin được công bố. Dạng mạnh của lý thuyết này khẳng định rằng thị trường tài chính hiệu quả, giá cổ phiếu phản ánh toàn bộ thông tin đã được công bố và thông tin nội bộ.
Lý do là người biết thông tin nội bộ sẽ mua bán cổ phiếu để kiếm lời, dẫn đến biến động giá cổ phiếu cho đến khi không còn cơ hội lợi nhuận. Các nghiên cứu đã chứng minh rằng dạng yếu và bán-mạnh của lý thuyết có thể đúng. Tuy nhiên, có nhiều nghiên cứu phản đối dạng mạnh, cho rằng thị trường không hoàn toàn hiệu quả. Có nhiều không hiệu quả trong thị trường mà nhà đầu tư có thể tận dụng để kiếm lời.
Lý thuyết về thị trường hiệu quả của Eugene Fama cho thấy giá cổ phiếu phản ánh thông tin thị trường và biến động của thông tin, khó đoán trước. Để đánh giá giá cổ phiếu, cần nghiên cứu tác động của các yếu tố vi mô và vĩ mô. Lý thuyết Dow Lý thuyết Dow được đưa ra lần đầu tiên và được phân tích bởi Charles Dow trong bài xã luận của ông từ những năm 1900 đến 1902 trên Wall Street Journal. Sau đó, lý thuyết này được kế thừa và phát triển thành một chiến lược mang tên Dog of the Dow được giới thiệu bởi Michael O'Higgins trong cuốn Beating The Dow vào năm 1991.
10 Lý thuyết Dow là lý thuyết đầu tiên phân tích các xu hướng của thị trường chứng khoán, và với mỗi xu hướng được chia ra làm các giai đoạn khác nhau. Cụ thể hơn, lý thuyết Dow phác thảo các xu hướng mà một TTCK trải qua gồm: xu hướng chính, xu hướng thứ cấp và xu hướng nhỏ. Với mỗi xu hướng trong lý thuyết đề cập đều ba giai: giai đoạn tích luỹ, giải đoạn bùng nổ và giai đoạn phân phối Lý thuyết Dow gồm 6 nguyên lý cơ bản nhằm phân tích TTCK: Trong nguyên lý đầu tiên của lý thuyết Dow, thị trường giảm giá tất cả mọi thứ. Theo nguyên lý này, Lý thuyết Dow hoạt động dựa trên giả thuyết thị trường hiệu quả (EMH), trong đó nêu rằng thị trường đã phản ánh tất cả các thông tin sẵn có.
Mọi thứ cần biết đều đã được phản ánh trên thị trường thông qua giá cả. Dựa trên nguyên tắc này, các yếu tố như tiềm năng thu nhập, lợi thế cạnh tranh, năng lực quản lý và nhiều yếu tố khác đều được xác định thông qua thị trường. Qua đó, giá cổ phiếu trên TTCK sẽ được theo các xu hướng trong nguyên lý thông qua các yếu tố được xác định thông qua thị trường. Các yếu tố bất ngờ có thể xảy ra nhưng chỉ có thể ảnh hưởng đến xu hướng nhỏ, xu hướng chính không bị ảnh hưởng.
Dựa vào điều này các nhà đầu tư để dự báo về các biến động của giá cổ phiếu. Trong nguyên lý thứ hai, ba xu hướng trong lý thuyết Dow trong giới thiệu giải thích về các thay đổi về giá trên TTCK: - Xu hướng chính: những chuyển động chính trong thị trường kéo dài trong từ một hoặc nhiều năm. Xu hướng chính dùng để xác định đây là một thị trường tăng giá hoặc giảm giá. - Xu hướng thứ cấp: là xu hướng đi ngược lại với xu hướng chính, làm gián đoạn chuyển động của xu hướng chính.
Xu hướng này rất khó xác định và được hình thành trong khoảng thời gian từ ba tuần đến vài tháng. - Xu hướng nhỏ: đây là xu hướng xảy ra trong thời gian rất ngắn trong vài ngày hoặc dưới 3 tuần. Đây là xu hướng với khả năng gây nhiễu cao hơn hẳn so với xu hướng thứ cấp. Nó có thể ngược chiều với cả xu hướng thứ cấp và xu hướng chính.
Đến với nguyên lý thứ ba, các xu hướng trong thị trường đều tồn tại ba giai đoạn khác nhau: 11 - Giai đoạn tích luỹ: Xảy ra sau xu hướng giảm mạnh, giá cổ phiếu có thể thấp chạm đáy. Khi này, sẽ có nhiều nhà đầu tư lớn và quỹ sẽ tham gia vào thị trường bằng cách mua lượng lớn cổ phiếu ở mức giá thấp như vậy thường xuyên, trong thời gian dài. Khối lượng mua cổ phiếu khổng lồ sẽ giúp cho giá cổ phiếu tăng lên thông qua việc thúc đẩy nhu cầu mua. Đưa cổ phiếu đó vào giai đoạn tăng trưởng.
- Giai đoạn tăng trưởng: Đây là được xem là lúc thăng hoa nhất của giá cổ phiếu khi mà các tín hiệu thị trường được các nhà giao dịch ngắn hạn, những người theo phân tích kỹ thuật nhận ra các tín hiệu và tham gia vào thị trường.