Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Chương này giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vị nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, đóng góp mới của đề tài và bố cục của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH Chương này sẽ tập trung giới thiệu về khái niệm DTNH và trình bày các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH của một quốc gia, đồng thời nêu các nghiên cứu thực nghiệm liên quan về các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH, để có cơ sở xây dựng mô hình thực nghiệm cho chương 3. Chương 3: Mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng DTNH tại Việt Nam Chương này trình bày cơ sở đề xuất xây dựng mô hình để từ những lý thuyết xây dựng được mô hình thực nghiệm của DTNH, phương pháp xác định các biến và trình tự thực hiện mô hình. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận về các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH tại Việt Nam Chương này phân tích thực trạng DTNH Việt Nam về quy mô và cơ cấu DTNH, thực hiện 6 mô hình nghiên cứu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH Việt Nam và mức độ ảnh hưởng của chúng, đồng thời chương này cũng đưa ra các thảo luận về kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và gợi ý hàm ý chính sách Chương này sẽ tóm tắt lại các vấn đề nghiên cứu và kết quả nghiên cứu của đề tài, dựa trên kết quả nghiên cứu đưa ra gợi ý chính sách nhằm gia tăng và quản lý DTNH của Việt Nam. Đồng thời, nêu những hạn chế mà đề tài chưa thực hiện được và hướng nghiên cứu mới tiếp theo của đề tài. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI Trong chương này, tác giả trình bày cơ sở lý thuyết về DTNH và các yếu tố ảnh hưởng đến DTNH của một quốc gia nói chung. Đồng thời, chương này cũng lược khảo các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước nhằm làm cơ sở xây dựng mô hình thực nghiệm cho Việt Nam.
DỰ TRỮ NGOẠI HỐI 2. Khái niệm ngoại hối Ngoại hối là một thuật ngữ dùng để chỉ các phương tiện được sử dụng để thanh toán trong các giao dịch quốc tế giữa các quốc gia với nhau. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010), ngoại hối là phương tiện thanh toán quốc tế bao gồm: ngoại tệ và các loại GTCG, vàng, SDR và tiền quốc gia sử dụng trong thanh toán quốc tế. Theo pháp lệnh ngoại hối Việt Nam số 28/2005/PL-UBTVQH11, ngoại hối bao gồm: Một là, đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực.
Hai là, phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác. Ba là, các loại GTCG bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu và các loại giấy tờ có giá khác. Bốn là, vàng thuộc DTNH nhà nước, trên tài khoản ở nước ngoài của người cư trú; vàng dưới dạng khối, thỏi, hạt, miếng trong trường hợp mang vào và mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam. Năm là, đồng tiền của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp chuyển vào và chuyển ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc được sử dụng trong thanh toán quốc tế.
Khái niệm dự trữ ngoại hối Theo IMF (2009), DTNH của một quốc gia là những tài sản nước ngoài có sẵn và được cơ quan quản lý tiền tệ quốc gia kiểm soát để đáp ứng các nhu cầu trong thanh toán quốc tế, can thiệp trên thị trường ngoại hối để điều chỉnh tỷ giá,…Thành phần của DTNH của một quốc gia bao gồm ngoại tệ (tiền mặt và tiền gửi), chứng khoán (chứng khoán nợ và chứng khoán vốn), vàng, quyền rút vốn đặc biệt (SDR) và vị thế dự trữ với IMF. Tương tự IMF(2009), tại Việt Nam, Nghị định 50/2014/NĐ-CP về quản lý DTNH Nhà nước, cũng trình bày thành phần của DTNH Việt Nam bao gồm: ngoại tệ, chứng khoán và GTCG do Chính phủ, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế phát hành, SDR, vàng và các loại ngoại hối khác. Hình thức dự trữ ngoại hối Ngoại hối có thể được dự trữ dưới các hình thức như sau: Thứ nhất, tiền mặt và số dư của tài khoản tiền gửi của nước gửi tiền bằng ngoại tệ ở nước ngoài. Thông thường, phần lớn trữ lượng DTNH của các quốc gia nắm giữ là USD và một phần nhỏ là các ngoại tệ khác: EUR, GBP, JPY,…Điều này sở dĩ bởi vì USD là phương tiện thanh toán quốc tế chính trên toàn cầu, được sử dụng ở hầu hết các quốc gia, là đồng ngoại tệ có thể xem là mạnh nhất hiện nay.
Thứ hai, hối phiếu, trái phiếu hoặc các giấy tờ ghi nợ khác của chính phủ nước ngoài, ngân hàng nước ngoài, các tổ chức tài chính tiền tệ quốc tế Thứ ba, vàng dưới dạng khối , vàng hạt, vàng thỏi và vàng dạng miếng. Tuy nhiên trang sức bằng vàng không ở những dạng đã được nêu trên nên không được xem là ngoại hối. Thứ tư, các loại ngoại hối khác: quyền rút vốn đặc biệt (SDR),… 2. Nguồn hình thành dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối được hình thành từ cán cân thanh toán gồm: cán cân tài chính, cán cân vãng lai và cán cân vốn.
Theo Lê Phan Diệu Thảo và Nguyễn Trần Phúc (2015). 9 Cán cân tài chính là các giao dịch mua bán tài sản tài chính (tiền, trái phiếu, tín phiếu,…) giữa người cư trú với người không cư trú trong một kỳ nhất định. Cán cân tài chính bao gồm đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, tín dụng thương mại, khoản ứng trước,vay và trả nợ nước nước ngoài, giao dịch phái sinh tài chính, tiền và tiền gửi. Cán cân vãng lai bao gồm cán cân thương mại hàng hóa (hoạt động xuất nhập khẩu), cán cân dịch vụ ( vận tải, du lịch,…), cán cân thu nhập (giao dịch vốn, thu nhập từ đầu tư, tiền lương thưởng,.) và chuyển tiền một chiều (kiều hối,ODA,.
Trong các thành phần trên, cán cân thương mại là yếu tố quan trọng nhất vì chiểm tỷ trọng lớn nhất và và ảnh hưởng đến cán cân vãng lai. Cán cân vốn là những giao dịch về tài sản ( bao gồm bất động sản hay tài khoản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu,…) giữa người cư trú ở trong nước với người cư trú ở nước ngoài hoặc các hình thức chuyển giao tài sản vô hình như tên thương hiệu, bằng sáng chế,… giữa quốc gia và nước ngoài, các hoạt động giảm nợ, xóa nợ của quốc gia với nước ngoài. Các giao dịch này thường không sử dụng thường xuyên nên cán cân vốn thường có tỷ trọng nhỏ trong các cán cân và không đáng kể. Từ các thành phần của DTNH theo quy định của IMF và các cán cân tài chính, cán cân vãng lai, nguồn hình thành DTNH từ những nguồn chủ yếu sau đây: Thứ nhất, nhận phân bổ SDR từ IMF theo hạn mức đóng góp của quốc gia vào IMF.
Thứ hai, rút DTNH từ IMF nếu có vị thế dự trữ tại IMF. Thứ ba, tăng mua ngoại tệ, vàng và các loại GTCG từ đồng tiền vào của cán cân tài chính và cán cân vãng lai: kiều hối gửi vào trong quốc gia, nguồn viện trợ không hoàn lại cho quốc gia, nguồn ngoại tệ đi vào quốc gia từ hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp nước ngoài, nguồn vay nợ nước ngoài bao gồm cả vay trung dài hạn và ngắn hạn, nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu của quốc gia, nguồn thu nhập do người cư trú ra nước ngoài làm việc và gửi về. Trong các nguồn hình thành DTNH trên, nguồn quan trọng nhất đem lại nhiều DTNH cho quốc gia bao gồm: 10 Thứ nhất, nguồn ngoại tệ từ hoạt động xuất nhập khẩu, tức là tăng hoạt động xuất khẩu ra nước ngoài, hạn chế nhập khẩu hơn để cải thiện cán cân thương mại, mang lại nguồn thu ngoại tệ cho DTNH. Thứ hai, nguồn ngoại tệ nước ngoài đi vào quốc gia từ hoạt động đầu tư trực tiếp và gián tiếp.
Thứ ba, nguồn ngoại tệ từ kiều hối và từ thu nhập của lao động ra nước ngoài làm việc và gửi về. Vai trò của dự trữ ngoại hối Dự trữ ngoại hối có vai trò rất quan trọng của mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển. DTNH là lá chắn giúp quốc gia phòng ngừa và giảm nhẹ các tác động bởi cú sốc khủng hoảng kinh tế. Chằng hạn, hậu quả của cuộc khủng hoảng Đông Á năm 1997, đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng bao gồm mất giá tiền tệ, thị trường chứng khoán sụp đổ, tài sản bị giảm giá, nhiều doanh nghiệp buộc phải phá sản.
Trong trường hợp khủng hoảng cán cân thanh toán, thị trường vốn quốc tế có thể đóng cửa và gói cứu trợ của IMF cũng không được đảm bảo. Vì vậy, để ngăn chặn hoặc vượt qua cuộc khủng hoảng như vậy, cần phải xây dựng nguồn dự trữ cao, theo Aizenman và Marion (2002), Lane và cộng sự (2001). Một vai trò lý thuyết và truyền thống khác của việc nắm giữ DTNH là để duy trì tỷ giá hối đoái. Khi cán cân thương mại lệch về phía nhập khẩu, tức là nhập khẩu nhiều hơn xuất khẩu sẽ làm thâm hụt cán cân, kéo theo nhu cầu tăng giá của ngoại tệ và tỷ giá biến động mạnh.
Để kiểm soát tỷ giá, NHTW sẽ bán ngoại tệ ra thị trường ngoại hối, giúp tăng cung ngoại tệ đang khan hiếm trên thị trường và tỷ giá ổn định trở lại. Ngược lại, khi xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu, làm tỷ giá giảm và giá ngoại tệ giảm theo, NHTW sẽ mua vào ngoại tệ, tạo cầu ngoại tệ tăng và tỷ giá tăng lên. Theo Drummond và cộng sự (2009), DTNH còn giúp tăng cường niềm tin cho người dân và nhà đầu tư vào hệ thống ngân hàng, thúc đẩy đầu tư, góp phần tăng trưởng kinh tế quốc gia. Các quốc gia có nguồn DTNH dồi dào có thể xem rằng nền kinh tế khá ổn định và 11 phát triển.
Ngoài tăng niềm tin cho người dân và nhà đầu tư trong nước, DTNH cũng giúp quốc gia được xếp hạng tín nhiệm cao, thuận lợi trong việc mua bán quốc tế, vay nợ nước ngoài. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN DỰ TRỮ NGOẠI HỐI 2. Lược khảo các nghiên cứu liên quan 2.