Chương IÏ_ Thực trạng của dòng luân chuyển ngoại tệ ở Việt Nam_ minh cho hành động này của người dân, doanh nghiệp cho nên vấn đề quản lí cũng khó khăn. Việc tính toán được khối lượng ngoại tệ đang có mặt ngoài hệ thống Ngân hàng là rất khó, người ta thường dựa vào các nguôn đô la Mỹ từ nước ngoài chuyển vào trong nước thông qua con đường tư nhân như: thu nhập từ buôn lậu, kiều hối, quà biếu, quà tặng băng USD, cá nhân mang trực tiếp khi xuất cảnh có khai báo (khi trên mức qui định) và không khai báo (dưới mức qui định hoặc không có tự giác), các nguồn thu từ đô la Mỹ trong nước như: dịch vụ du lịch với khách nước ngoài. bởi vậy, chủ yếu phải dựa vào quan sat, thong tin dư luận, nhìn nhận các giao dịch thanh toán trong dân cư nhất là các giao dịch lớn như :mua bán bắt động sản, mua xe ô tô. Mới đây, Theo ước lượng của Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia Lê Xuân Nghĩa về con số này dựa trên nhiều yếu tố như dự trữ ngoại hối, vay nợ của Chính phủ, kiêu hối, FDI, xuất khâu, lượng ngoại tệ trong hệ thống ngân hàng.
đã công bó cuối năm ngoái. Thì con số dự trữ trong dân là khoảng 9,7 tỷ USD một con số khá lớn chiếm khoảng hơn 60% tông dự trữ ngoại hối cả nước năm 2009. Nếu nguồn tiền cất trữ này không được quản lí đúng thì sẽ có nguy cơ về bất ổn tỷ giá trong tương lai. — Tiền gửi trong hệ thống NHTM Nhìn diễn biến qua các năm được thể hiện dưới bảng ta thấy tình tỷ lệ FCD/TTG trong hệ thống ngân hàng có xu hướng tăng và với tỷ lệ tương đối cao.
Trong đó, tiền gửi bằng USD là chủ yếu. Đây là nguyên nhân gây ra tình trạng đô la hóa trong NHTM. Nguyên nhân của tình trạng này là do lãi suất của USD trong giai đoạn năm 2007, 2008 tăng gây ra chênh lệch giữa lãi suất VND và USD cộng với quyết định 09/2008/QĐ- NHNN thu hep đối tượng vay vốn bằng ngoại tệ so với quyêt định 966/2003/ QĐ-NHNN. Năm 2009, do dòng vào giảm mạnh so với năm 2008, tuy nhiên do tốc độ lạm phát gia tăng đồng thời do biến động của tỷ giá làm cho tiền gửi ngoại tệ trong hệ thông Ngân hàng có xu hướng giảm.
Trong năm này, người dân và doanh nghiệp có xu hướng đầu cơ, gdm giữ ngoại tệ. Vì thế, tình trạng đô la hóa tài sản nợ của hệ thống NHTM có xu hướng giảm hơn. 19 Chương ll Thực trạng của dòng luân chuyến ngoại tệ ở Việt Nam Năm 2007 2008 2009 FCD/TTG (%) 22,9 23,9 <23,9 FCD/M2 (%) 19,2 20,4 <20,4 Diễn biến tiên gửi ngoại tệ (FCD) giai đoạn 2007-2009 (Nguon: IMF Country Report No. Sử dụng ngoại tệ trong nước 1.
Sử dụng trong thanh toán, giao dịch trong nước Đối với việc thanh toán trong nước thì nước ta, từ lâu đã có sở thích sử dụng đồng ngoại tệ đặc biệt là USD để mua hàng hóa, để niêm yết giá cả hàng hóa đặc biệt là bất động sản, vàng, ô tô. để mua được các hàng hóa này, thì việc sử dụng VND sẽ gây ra khó khăn trong việc thanh toán, vận chuyển (do thanh toán không dùng tiền mặt của nước ta còn chưa phát triển). Hay nói cách khác đồng USD có những lợi ích hơn đồng Việt Nam. Ngoài ra, khi thanh toán bằng USD tạo cho người thanh toán có cảm giác là người giàu có, hơn người khác.
Cho nên, việc thanh toán bằng ngoại tệ ngày càng nhiêu trong các giao dịch trên mặc dù đã có những qui định xử phạt của chính phủ. Tình trạng nảy, một mặt tạo ra sự lấn at đối với đồng VND trong nước, mặc khác cũng thúc đây tăng cất trữ đồng ngoại tệ. Theo nguồn tin từ NHNN, thì do trong năm 2009, việc thanh tra kiểm soát các cửa hàng niêm yết giá hàng hóa bằng USD đã có những xử phạt rât nghiêm khắc, do đó đã giảm được hình thức thanh toán và niêm yết bằng USD. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia thì tình trạng thanh toán chui vẫn còn.
Giao dịch của các tổ chức tín dụng Các tô chức tín dụng với vai trò là trung gian trong nên kinh tế có tác dụng tạo cho dòng lưu thông ngoại tệ được trôi chảy hơn. Trong đó, phải kế đến vai trò lớn nhật của các NHTM (là tổ chức tín dụng có nhiều chức năng nhất) là cầu nỗi giữa cung — cầu ngoại tệ tạo cho ngoại tệ một tính thanh khoản hơn. Chăng hạn, khi doanh nghiệp cần chuyên đổi đồng ngoại tệ sang đồng nội tệ hoặc ngược lại thì bắt buộc phải cần tới hệ thống 20 Chương II Thực trạng của dòng luân chuyển ngoại tệ ở Việt Nam NHTM bởi đây là nơi được cấp phép của NHNN và có nguồn lực đủ để đáp ứng nhu cầu. Ngoài ra còn có sự liên thông giữa các tổ chức tín dụng trong việc vay mượn lẫn nhau khi gặp những thiêu hụt tạm thời.
Bên cạnh đó là hoạt động tín dụng của NHTM với các chủ thể khác như doanh nghiệp và người dân. Bảng dưới thể hiện các khoán cho vay bằng ngoại tệ trên tong nợ, nhìn vào bảng thì không có thể nhận đinh tỷ lệ này khá lớn, cho thấy được nhu câu ngoại tệ là khá cao. Năm 2007 2008 FCL/Téng no (%) 21,4 20,1 Bang: Dién bién các khoản cho vay bằng ngoại tệ (FCL) giai đoạn 2007-2008 Nguén: IMF Country Report No.09/110-Viét Nam Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, các khoản vay bằng ngoại tệ có xu hướng giam 2007 — 2008 và cá năm 2009. Mặc dù chưa có số liệu chính thức nhưng năm 2009, do nhập khẩu đã giảm sút so với năm 2007 và 2008 đồng thời lãi suất tiền gửi lại gia tăng trong cuối năm làm cho lượng vay bằng ngoại tệ cũng giảm sút.
_ Chi tiêu của nhà nước trong đâu tư phát triển Các công trình xây dựng cơ bản trong nước là chủ yếu dùng nguồn vốn của nước ngoài. Nhờ có nguồn vốn nước ngoài ngảy càng tăng cho nên trong những năm gan đây Việt Nam đã có những thay đổi rất lớn. Với dự án lớn được đưa ra nhằm thay đối tình trạng cơ sở hạ tầng, đời sông của đất nước. Nguồn vốn ODA cũng góp phan đáng kế vào phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo của nhiều địa phương bao gồm phát triển cơ sở hạ tầng qui mô nhỏ, cấp nước, đường giao thông trạm y tế, lưới điện phân phối, điện thoại nông thôn) và phát triển nông nghiệp thủy lợi, thủy sản của nhiều địa phương nhất là các tỉnh nghèo cùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc.
Hàng loạt các công trình sử dụng vốn ODA sẽ đưa vào hoạt động như phát triển đường cao tốc bắc nam, các trục đường chính vùng kinh tế, phát triển tuyến đường miễn núi phía bắc, tây nguyên. 21 Chương II Thực trạng của dòng luân chuyển ngoại tệ ở Việt Nam 1.3, Dong ra cua ngoai té 1.1, Dac diém Với nên kinh tế đang tiến những bước đầu hội nhập nên luông ra USD đi qua nhiều kênh khác nhau đôi ứng với dòng vào trong quan hệ quốc tế. — Nhập khẩu hàng hóa Kim ngạch nhập khẩu năm 2008 khoang 80,4 ty USD tăng 28,7% so với năm 2007 trong đó tư liệu sản xuất chiếm 88,8%. Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá năm 2009 khoảng 68,8 tỷ USD, giảm 14,7% so với năm 2008.
Chỉ so sánh dòng ra từ nhập khẩu và dòng vào từ xuất khẩu. ta đã nhận ra được chênh lệch của hai dòng này khá xa. Do đó, nhìn vào số liệu bảng bên dưới, có một số hàng hóa cần phải được giảm hoặc thay đổi cách thức nhập khẩu, thì chênh lệch giữa hai dòng này có thé thu hep lai.000 0 MM NL Máy Phân Thép Xăng Chất Hoá Thức Hàng thiết ngành tính bón các dầu dẻo chất ăngia hoá Di, dét, SP loại NL súc và khác dụng may, điện NL CU, da tử phụ giầy ị tùng | ¬. TS Bảng nhập khẩu các nguyên liệu năm 2009 so với năm 2008 (bộ công thương) 1.
— Nhập khẩu dịch vụ Cùng với nhập khẩu hàng hóa năm 2008 còn đây mạnh nhập khẩu dịch vụ. Tổng trị giá ước tính nhập khẩu hàng dịch vụ đạt khoảng 7,9 tỷ USD tăng 10,3% so với năm 22 Chương lÌ Thực trạng của dòng luân chuyến ngoại tệ ở Việt Nam 2007. Năm 2009, Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ ước tính đạt 6,837 tỷ USD, giảm 14,1% so với năm 2008. Nhìn chung, dòng ra của nhập khẩu là quá cao, luồng USD đi ra hàng năm theo số liệu ở trên là tăng rất nhanh.
Do đó, cần có một chính sách cải thiện trong kế hoạch nhập khẩu của quốc gia. Trả nợ Nhìn vào bảng ta thấy mức trả nợ của chính phú tăng theo hàng năm. Trong đó nợ của các chủ nợ chính thức chiếm tỉ trọng khoảng 93%. Hằng năm chính phủ đã phải trích một khoảng tiên rất lớn để chỉ trả, tuy nhiên khoảng chỉ trả không bằng khoảng vay nợ.
Lượng trả nợ hàng năm lại tăng lên hàng năm, nắm 2007 là 885,9 triệu USD, năm 2008 là 1.103 triệu USD, 6 tháng đầu năm 2009 là 600,24 tiệu USD. Với tình hình vay nợ như trên cộng với cán cân vãng lai tiếp tục thâm hụt thì áp lực trả nợ của chính phủ ngày cảng lớn. Bảng dưới cũng thê hiện quá trình rút vốn, và trả nợ nước ngoài của chính phủ. Ta thay được chênh lệch rất lớn giữa hai nguồn này.
Rút vốn và trả nơ nước ngoài 2004-2008 : —e— Rix vin trong kỳ § =@— Tổng trả nợ trong kỷ 5 4 Chênh lệch giữa rút vốn vệ trả nợ Nguồn: Bó Tài chính, Bên tun nợ nước ngoài số 3 (4-2009) Biểu đô về rút vốn và trả nợ nước ngoài từ 2004 -2008 (nguôn bộ tài chính, bản tin nơ nước ngoài số 3) 23 Chương lÏ T hực trạng của dong luân chuyển ngoại tệ ở Việt Nam _ Biểu số 4.02 DU NO, RUT VON VA TRA NO NUOC NGOAI CUA CHINE PHU VA DUOC CHÍNH PHỦ BẢO LÃNH 2005 - 30/06/2009 (friệs 0SD, ty VID) 2005 2006 2007 2008 30.2009 U&D VND USD VRD USD VND USD VND USD VND pu No"! 14,208.65 Na cla Chinh ond 13,298.81 Nọ được Chíah phủ bảo lảnh 909.84 RUT VON TRONG KY"! 2,240.17 No cua Chinh one 3123690| 34,396.62 No duce Chíah phú bảo lãnh 72.55 TONG TRA NO TRONG KY "! 698.51 Nợ của Chính 252 532.98 7111 Nọ được Chính phú bao lãnh 165,42 2,614.88 TONG TRA GOC TRONG KY '*! $35.16 No của Chỉnh o5 326.52 Nạ được Chí^h phủ bảo lãnh 118,84 1,878.64 ni TRA LAT VỀ PHẾ TRÔNG 263.93] 42439| 690028[ 23407| 3936-35 No của Chỉnh ah¿ 216.18 Nø được Chỉnh phủ bão lãnh 46,59 736.