Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, các hoạt động thương mại đối ứng, hợp tác đầu tư và tín dụng giữa các quốc gia đều gắn liền với việc sử dụng ngoại tệ. Đối với một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu lưu thông tiền tệ nội địa không chỉ dừng lại ở đồng bản tệ mà còn đòi hỏi sự tham gia của các đồng ngoại tệ nhằm đáp ứng các giao dịch thanh toán quốc tế và nhu cầu tích trữ tài sản. Tác giả khóa luận lập luận rằng sự mất cân đối hoặc thiên lệch giữa các cấu phần trong dòng luân chuyển ngoại tệ sẽ tạo ra những tác động trực tiếp và sâu rộng đến ổn định kinh tế vĩ mô, biến động tỷ giá, lãi suất và sự vận hành của các chủ thể kinh tế.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là hệ thống hóa và phân tích thực trạng luân chuyển ngoại tệ tại Việt Nam, từ đó đánh giá tác động qua lại giữa dòng ngoại tệ và nền kinh tế, đồng thời đề xuất hệ thống giải pháp nhằm điều hòa luồng chu chuyển tiền tệ này.
Khóa luận xác định các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về cấu trúc ba bộ phận của dòng luân chuyển ngoại tệ (dòng vào, lưu chuyển nội địa, dòng ra) và tác động của chúng đối với nền kinh tế.
- Khảo sát, tổng hợp và phân tích thực trạng từng kênh ngoại tệ vào, ra và lưu chuyển trong nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009.
- Phân tích các nhân tố tác động đến dòng ngoại tệ (tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng GDP, bối cảnh kinh tế toàn cầu và khung khổ pháp lý).
- Xây dựng các định hướng, khuyến nghị và giải pháp can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý ngoại hối, ổn định tỷ giá và giảm thiểu tình trạng đô la hóa.
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ dòng luân chuyển ngoại tệ, bao gồm các thành phần cấu thành luồng ngoại tệ đi vào, lưu chuyển nội địa và đi ra khỏi nền kinh tế.
- Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam trong mối quan hệ giao thương và thanh toán quốc tế.
- Phạm vi thời gian: Tập trung phân tích giai đoạn 2007 – 2009 (có sử dụng chuỗi số liệu bổ trợ giai đoạn 2000 – 2006 và nửa đầu năm 2009 để so sánh xu hướng).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận đối tượng nghiên cứu thông qua khung lý thuyết về luồng tiền khép kín của một quốc gia. Cấu trúc dòng luân chuyển ngoại tệ được xác lập gồm ba bộ phận chính:
- Dòng vào: Thu nhập ngoại tệ từ xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ; đầu tư nước ngoài (FDI, FII, ODA); kiều hối; các khoản vay nợ nước ngoài và nguồn thu khác.
- Lưu chuyển trong nước: Nhu cầu tích lũy (dự trữ ngoại hối quốc gia, cất trữ của hộ gia đình và doanh nghiệp ngoài hệ thống ngân hàng, tiền gửi ngoại tệ FCD tại ngân hàng thương mại); nhu cầu sử dụng (thanh toán giao dịch nội địa, tín dụng ngoại tệ FCL của các tổ chức tín dụng, chi tiêu đầu tư phát triển của Chính phủ).
- Dòng ra: Chi trả nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ; trả nợ gốc và lãi nước ngoài; đầu tư trực tiếp và gián tiếp ra nước ngoài; lợi nhuận chuyển về nước của khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; chuyển giao một chiều và cho vay nước ngoài.
Khóa luận sử dụng các khái niệm chuẩn mực về dự trữ ngoại hối quốc gia theo Cẩm nang Cán cân thanh toán quốc tế (BPM5) của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), bao gồm: ngoại hối, vàng tiền tệ, Quyền rút vốn đặc biệt (SDR), hạn mức dự trữ tại IMF và các thỏa thuận vay nợ chung (GAB, NAB). Đề tài cũng vận dụng lý thuyết về hiện tượng đô la hóa (đô la hóa chính thức và không chính thức, chức năng thay thế phương tiện thanh toán và tích lũy tài sản), cùng lý thuyết định giá tài sản và vị thế tiền tệ quốc tế (USD, EUR, GBP, JPY).
Khung pháp lý được rà soát gồm: Luật Đầu tư năm 2005; Nghị định số 78/2006/NĐ-CP (thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP); Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN (thay thế Quyết định số 966/2003/QĐ-NHNN) về thu hẹp đối tượng vay vốn ngoại tệ; Quyết định số 170/1999/QĐ-TTg và Quyết định số 78/2002/QĐ-TTg về khuyến khích kiều hối.
Về phương pháp, tác giả sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu số liệu thứ cấp để đánh giá động thái dòng tiền theo mô hình vòng tuần hoàn khép kín. Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ các cơ quan quản lý và định chế tài chính: Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính (Bản tin nợ nước ngoài số 3 và số 4), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Tổng cục Thống kê, Viện Nghiên cứu Quản lý Trung ương, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF Country Report No.09/110), Ngân hàng Thế giới (World Bank), UNCTAD, CEIC và Merrill Lynch.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM VÀ TÁC ĐỘNG CỦA DÒNG LUÂN CHUYỂN NGOẠI TỆ
Chương I trình bày cơ sở lý luận về bản chất và cấu tạo ba bộ phận của dòng luân chuyển ngoại tệ. Tác giả chỉ ra rằng dòng luân chuyển ngoại tệ có mối quan hệ hữu cơ: dòng vào cung ứng nguồn lực tài chính, lưu chuyển nội địa phân bổ và tiêu thụ một phần khối lượng ngoại tệ, và dòng ra giải tỏa lượng ngoại tệ tồn đọng nhằm tránh dư thừa gây áp lực tiền tệ.
Chương này phân tích tác động hai mặt khi cán cân dòng tiền có sự mất cân đối:
- Khi dòng vào lớn hơn dòng ra: Tác động tích cực là gia tăng dự trữ ngoại hối, giảm gánh nặng nợ công khi quy đổi sang ngoại tệ và tạo nguồn vốn đầu tư hạ tầng; tác động tiêu cực là làm tăng giá đồng nội tệ gây suy giảm năng lực cạnh tranh xuất khẩu, đẩy mạnh áp lực đô la hóa và gia tăng rủi ro tài chính tương lai nếu dòng vào chủ yếu dựa vào nợ vay.
- Khi dòng vào nhỏ hơn dòng ra: Tác động tích cực là hỗ trợ xuất khẩu do nội tệ giảm giá; tác động tiêu cực là làm suy giảm dự trữ ngoại hối, gia tăng dư nợ quốc gia, tích tụ áp lực lạm phát và gây rủi ro mất thanh khoản ngoại tệ.
Đối với lưu chuyển nội địa, dự trữ ngoại hối quốc gia giữ vai trò ổn định tỷ giá và tạo lập niềm tin thị trường. Ngược lại, hiện tượng đô la hóa dù có thể giảm chi phí giao dịch quốc tế nhưng lại làm xói mòn tính độc lập của chính sách tiền tệ và tài khóa, làm thất thu lợi nhuận phát sinh từ việc phát hành tiền (seigniorage) và vô hiệu hóa vai trò người cho vay cuối cùng của ngân hàng trung ương. Về tiền tệ giao dịch, số liệu IMF quý 2/2009 cho thấy USD chiếm 64% tổng dự trữ ngoại hối toàn cầu (EUR chiếm 27%), xác lập vai trò phương tiện yết giá và thanh toán chủ đạo.
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG DÒNG LUÂN CHUYỂN NGOẠI TỆ Ở VIỆT NAM
Chương II tập trung phân tích thực trạng từng kênh ngoại tệ tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009 và làm rõ tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
1. Thực trạng dòng vào ngoại tệ:
- Xuất khẩu hàng hóa: Kim ngạch đạt 48,56 tỷ USD (2007), tăng lên 62,7 tỷ USD (2008, tăng 29,5%) và đạt 56,6 tỷ USD (2009). Xuất khẩu dịch vụ năm 2007 đạt 6,46 tỷ USD (du lịch chiếm 3,75 tỷ USD), năm 2008 đạt 7,14 tỷ USD (du lịch chiếm 4,02 tỷ USD), năm 2009 giảm 18,1% xuống 5,766 tỷ USD (du lịch đạt 3,05 tỷ USD).
- Thu nhập từ đầu tư ra nước ngoài: Chưa phát sinh dòng tiền vào do các dự án của doanh nghiệp Việt Nam còn non trẻ, giá trị thu nhập chuyển về bằng 0.
- Vốn đầu tư và viện trợ: Vốn FDI đăng ký năm 2007 là 20,3 tỷ USD (thực hiện 6,7 tỷ USD); năm 2008 đăng ký gần 64 tỷ USD (thực hiện ròng 8 tỷ USD); năm 2009 đăng ký 21,4 tỷ USD (thực hiện 11 tỷ USD). Vốn FII đạt 6,3 tỷ USD (2007), giảm xuống 4,6 tỷ USD (2008) và bị rút ròng 500 triệu USD trong năm 2009 (tổng FII còn khoảng 4 tỷ USD). Vốn ODA ký kết/cam kết duy trì trên 5 tỷ USD/năm (2007: 5,42 tỷ USD; 2008: 5,015 tỷ USD; 2009: 5,8 tỷ USD), nhưng giải ngân thực tế thấp (2007: hơn 2 tỷ USD; 2008: 2,1 tỷ USD; 2009: 3 tỷ USD).
- Kiều hối và Vay nợ: Kiều hối đạt 6 tỷ USD (2007), tăng lên 7,2 tỷ USD (2008) và sụt giảm còn 5,8 tỷ USD (2009). Vay nợ nước ngoài tăng nhanh: dư nợ chính phủ tăng từ 19.252,55 triệu USD (2007) lên 21.816,51 triệu USD (2008) và đạt 23.622,72 triệu USD vào 30/06/2009; tổng nợ nước ngoài năm 2009 chiếm 44,6% GDP.
| Chỉ tiêu dòng vào (Tỷ USD) |
Năm 2007 |
Năm 2008 |
Năm 2009 |
| Xuất khẩu hàng hóa |
48,56 |
62,70 |
56,60 |
| Xuất khẩu dịch vụ |
6,46 |
7,14 |
5,77 |
| Vốn FDI thực hiện |
6,70 |
8,00 |
11,00 |
| Vốn FII |
6,30 |
4,60 |
4,00 |
| Vốn ODA giải ngân |
> 2,00 |
2,10 |
3,00 |
| Kiều hối |
6,00 |
7,20 |
5,80 |
2. Thực trạng lưu chuyển ngoại tệ trong nước:
- Dự trữ ngoại hối quốc gia: Tăng từ 3,4 tỷ USD (10,4% GDP năm 2001) lên gần 22 tỷ USD (30,7% GDP năm 2007) và 23 tỷ USD (26,07% GDP năm 2008). Đến cuối năm 2009, dự trữ giảm 35% xuống còn 15 tỷ USD (chiếm 15,8% GDP), chỉ đủ tài trợ khoảng 3 tháng nhập khẩu (hoặc 15 tuần nhập khẩu).
- Cất trữ và tiền gửi ngoại tệ: Ước tính của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia cho thấy lượng ngoại tệ cất giữ ngoài hệ thống ngân hàng trong dân cư đạt khoảng 9,7 tỷ USD vào cuối năm 2009 (tương đương hơn 60% dự trữ ngoại hối quốc gia). Tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ trên tổng phương tiện thanh toán (FCD/M2) năm 2007 là 19,2%, năm 2008 là 20,4%; tỷ lệ FCD/TTG năm 2007 là 22,9%, năm 2008 là 23,9%. Tỷ lệ tín dụng ngoại tệ (FCL/Tổng nợ) năm 2007 là 21,4% và năm 2008 là 20,1%. Tỷ trọng sử dụng USD trong hoạt động xuất nhập khẩu chiếm khoảng 80% (World Bank, 2008).
3. Thực trạng dòng ra ngoại tệ:
- Nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ: Nhập khẩu hàng hóa năm 2008 đạt 80,4 tỷ USD (tư liệu sản xuất chiếm 88,8%), năm 2009 đạt 68,8 tỷ USD. Nhập siêu năm 2007 là 12,4 tỷ USD, năm 2008 lên tới 18 tỷ USD và năm 2009 là 12,2 tỷ USD. Nhập khẩu dịch vụ năm 2008 đạt 7,9 tỷ USD, năm 2009 đạt 6,837 tỷ USD.
- Nghĩa vụ trả nợ và Đầu tư ra nước ngoài: Trả nợ nước ngoài tăng từ 885,9 triệu USD (2007) lên 1.103 triệu USD (2008) và 600,24 triệu USD (6 tháng đầu 2009). Đầu tư ra nước ngoài năm 2007 là 929,2 triệu USD, năm 2008 là 2.081,6 triệu USD; năm 2009 có thêm 49 dự án với vốn đăng ký 1.065 triệu USD (lũy kế đạt 375 dự án với 3.980,6 triệu USD). Doanh nghiệp FDI chuyển về nước hơn 40% lợi nhuận trong năm 2007.
Tổng dòng vào thực tế (đã trừ vay thêm và 80% ODA giải ngân) giai đoạn 2007, 2008, 2009 lần lượt là 74,42 tỷ USD, 86,67 tỷ USD và 86,94 tỷ USD; trong khi tổng dòng ra tương ứng là 76 tỷ USD, 95,48 tỷ USD và 90 tỷ USD, tạo ra tình trạng thâm hụt ròng liên tục.
| Năm |
Tổng dòng vào (Tỷ USD) |
Tổng dòng ra (Tỷ USD) |
Chênh lệch ròng (Tỷ USD) |
Nhập siêu (Tỷ USD) |
| 2007 |
74,42 |
76,00 |
-1,58 |
12,40 |
| 2008 |
86,67 |
95,48 |
-8,81 |
18,00 |
| 2009 |
86,94 |
90,00 |
-3,06 |
12,20 |
4. Các nhân tố tác động đến dòng ngoại tệ:
- Tỷ giá và Lãi suất: NHNN liên tục điều chỉnh biên độ tỷ giá chính thức từ ±0,75% (24/12/2007) lên ±1% (10/03/2008), ±2% (26/06/2008), ±3% (06/11/2008), nới rộng lên ±5% (24/03/2009) và điều chỉnh về ±3% (25/11/2009). Lãi suất cơ bản VND năm 2008 được nâng từ 8,25% lên 8,75%, 12%, đạt đỉnh 14% trước khi hạ về 8,5% cuối năm 2008 và duy trì quanh mức 8% năm 2009; lãi suất cho vay USD dao động từ 3,5% – 8%.
- Tăng trưởng GDP: Tốc độ tăng trưởng GDP giảm từ 8,46% (2007) xuống 6,18% (2008) và 5,32% (2009). Dù sụt giảm do tác động kinh tế toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng dương cao hơn các quốc gia khu vực (Indonesia 4%, Philippines 1%, Thái Lan -3,5%, Malaysia -3,6%).
- Chính sách vĩ mô: Gói kích cầu kinh tế trị giá 8 tỷ USD năm 2009 hỗ trợ lãi suất tín dụng và an sinh xã hội; cùng với việc hoàn thiện Luật Đầu tư 2005, khống chế room ngoại trên thị trường chứng khoán (49% với doanh nghiệp niêm yết, 30% với NHTM).
CHƯƠNG III: KHUYẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHO DÒNG LUÂN CHUYỂN NGOẠI TỆ
Chương III đề xuất hệ thống định hướng và giải pháp can thiệp nhằm ổn định thị trường ngoại hối:
1. Định hướng chiến lược:
- Kết hợp đồng bộ giữa chính sách tỷ giá và chính sách tiền tệ, đặc biệt là công cụ lãi suất, thay vì áp dụng riêng rẽ.
- Cân đối lợi ích chính sách cho cả dòng vào và dòng ra; không quá ưu đãi xuất khẩu thô mà bỏ qua vai trò nhập khẩu máy móc công nghệ phục vụ công nghiệp hóa.
- Nâng cao uy tín và khả năng chuyển đổi của đồng Việt Nam (VND).
- Hạn chế tác hại của hiện tượng đô la hóa thông qua các công cụ thị trường và hành chính hợp lý, tránh lặp lại các biện pháp cưỡng chế hành chính kém hiệu quả trước đây (như bắt buộc kết hối 100% hay cấm gửi tiết kiệm ngoại tệ).
2. Hệ thống giải pháp cụ thể:
- Cân đối chính sách thương mại và đầu tư: Giảm nhẹ giá trị VND có kiểm soát để hỗ trợ xuất khẩu, đồng thời kết hợp giảm thuế, giảm lãi suất cho vay và tinh giản thủ tục hành chính để hỗ trợ doanh nghiệp nhập khẩu công nghệ và mở rộng đầu tư ra nước ngoài.
- Sử dụng VND trong thanh toán quốc tế: Đàm phán sử dụng VND trong quan hệ thương mại với các quốc gia đối tác có vị thế yếu hơn trong khu vực; mở rộng mạng lưới chi nhánh và đại lý thanh toán của NHTM Việt Nam ra nước ngoài.
- Nâng cao hiệu quả quản lý vốn ODA: Thiết lập cơ chế giám sát minh bạch nguồn vốn xây dựng cơ bản, ngăn chặn thất thoát tham nhũng (khắc phục các vụ việc tiêu cực như dự án PMU18 hay Đại lộ Đông Tây làm đình trệ cam kết ODA).
- Phối hợp công cụ tỷ giá và lãi suất: Vận hành cơ chế điều hành gián tiếp tỷ giá thông qua điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ tương tự mô hình điều hành lãi suất liên bang của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED).
- Xây dựng tỷ giá theo rổ tiền tệ: Chuyển đổi từ cơ chế neo cố định VND với USD sang tính toán tỷ giá danh nghĩa đa phương dựa trên rổ tiền tệ của các đối tác thương mại và dòng vốn chủ chốt qua từng thời kỳ.
- Gia tăng và củng cố dự trữ ngoại hối: Nâng cao thặng dư thương mại; đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư; thành lập kho dự trữ ngoại tệ tạm thời tại NHNN thông qua việc huy động lượng ngoại tệ nhàn rỗi từ các NHTM; đa dạng hóa danh mục dự trữ bằng các loại ngoại tệ mạnh và vàng.
- Đa dạng hóa ngoại tệ trong thanh toán: Giảm tỷ trọng 80% phụ thuộc vào USD bằng cách khuyến khích thanh toán bằng đồng tiền của nước đối tác hoặc các đồng tiền quốc tế khác khi có lợi.
- Phát triển thị trường ngoại hối: Mở rộng các công cụ phái sinh kỳ hạn (Forward), hoán đổi (Swap); nghiên cứu thành lập các trung tâm môi giới ngoại hối chuyên nghiệp và mở rộng đối tượng tham gia thị trường hợp pháp nhằm thu hẹp thị trường phi chính thức.
- Kiểm soát đô la hóa nội địa: Chuyển dịch ngoại tệ trôi nổi vào hệ thống ngân hàng; hạn chế cho vay bằng ngoại tệ (thay thế bằng cơ chế vay VND để mua ngoại tệ thanh toán); kiểm tra và xử phạt nghiêm hành vi niêm yết/thanh toán hàng hóa bằng USD; chuyển đổi các cơ sở thu đổi ngoại tệ tư nhân (tiệm vàng) thành đại lý ủy nhiệm chịu sự giám sát trực tiếp của NHTM.
- Tự do hóa có kiểm soát chu chuyển vốn: Cho phép doanh nghiệp FDI linh hoạt sử dụng lợi nhuận nhưng ban hành chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích giữ lại lợi nhuận tái đầu tư thay vì chuyển vốn ra nước ngoài.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp toàn diện cấu trúc vận động ba chiều của dòng luân chuyển ngoại tệ tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009, cung cấp bức tranh định lượng rõ nét về sự mất cân đối của cán cân ngoại tệ trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu:
- Xác lập số liệu thâm hụt dòng ngoại tệ ròng liên tục: năm 2007 thâm hụt 1,58 tỷ USD; năm 2008 thâm hụt 8,81 tỷ USD (nhập siêu kỷ lục 18 tỷ USD); năm 2009 thâm hụt 3,06 tỷ USD.
- Ghi nhận sự sụt giảm 35% của dự trữ ngoại hối quốc gia trong năm 2009 xuống còn 15 tỷ USD (tương đương 15,8% GDP), rơi vào ngưỡng cảnh báo tối thiểu (vừa đủ 3 tháng nhập khẩu).
- Lượng hóa quy mô dòng ngoại tệ găm giữ ngoài hệ thống ngân hàng thông qua số liệu ước tính 9,7 tỷ USD trong dân cư cuối năm 2009.
- Đóng góp học thuật của đề tài thể hiện ở cách tiếp cận tổng thể theo chu chuyển dòng tiền khép kín (vào – lưu chuyển nội địa – ra), khắc phục sự phân tán của các công trình trước đó vốn chỉ nghiên cứu riêng rẽ từng mảng xuất nhập khẩu, FDI hay cán cân thanh toán quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận còn tồn tại một số hạn chế do điều kiện thu thập thông tin tại thời điểm nghiên cứu (năm 2010):
- Số liệu thống kê của một số kênh luân chuyển chưa được công bố đầy đủ hoặc chưa thể đo lường chính xác, bao gồm: dòng tiền chuyển giao một chiều phi chính thức, dòng thu nhập từ cho vay vốn ODA ra nước ngoài, và khối lượng ngoại tệ cất trữ thực tế trong dân cư và doanh nghiệp (chủ yếu dựa trên quan sát và số liệu ước tính chuyên gia).
- Chuỗi số liệu phân tích tập trung chủ yếu vào giai đoạn biến động bất thường 2007 – 2009 dưới tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài là cập nhật chuỗi dữ liệu trong giai đoạn kinh tế phục hồi sau năm 2010, xây dựng mô hình định lượng đánh giá tác động của cơ chế điều hành tỷ giá theo rổ tiền tệ và lượng hóa hiệu quả của chính sách chống đô la hóa tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng, Kinh tế quốc tế, Quản lý kinh tế và Kinh tế học vĩ mô. Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu gồm:
- Khung lý luận và sơ đồ phân loại cấu trúc dòng luân chuyển ngoại tệ ba bộ phận (Chương I).
- Bộ số liệu thực chứng chi tiết về cán cân dòng tiền, biến động tỷ giá, biên độ giao dịch, lãi suất và nợ nước ngoài giai đoạn khủng hoảng 2007 – 2009 (Chương II).
- Các đề xuất chính sách về điều hành tỷ giá theo rổ tiền tệ, phát triển thị trường phái sinh và mô hình quản lý đại lý thu đổi ngoại tệ (Chương III).
Câu hỏi thường gặp
1. Dòng luân chuyển ngoại tệ tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009 rơi vào trạng thái nào?
Dòng ngoại tệ rơi vào trạng thái thâm hụt ròng liên tục: tổng dòng vào thực tế (đã trừ vay thêm và 80% ODA giải ngân) năm 2007 là 74,42 tỷ USD (dòng ra 76 tỷ USD, âm 1,58 tỷ USD); năm 2008 dòng vào là 86,67 tỷ USD (dòng ra 95,48 tỷ USD, âm 8,81 tỷ USD); năm 2009 dòng vào là 86,94 tỷ USD (dòng ra 90 tỷ USD, âm 3,06 tỷ USD).
2. Dự trữ ngoại hối của Việt Nam biến động ra sao trong năm 2009?
Sau khi đạt đỉnh 23 tỷ USD (chiếm 26,07% GDP) vào năm 2008, dự trữ ngoại hối quốc gia năm 2009 đã sụt giảm 35% xuống còn 15 tỷ USD (chiếm 15,8% GDP), chỉ vừa đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán cho 3 tháng nhập khẩu (hoặc 15 tuần nhập khẩu).
3. Khối lượng ngoại tệ cất trữ ngoài hệ thống ngân hàng trong dân cư cuối năm 2009 ước tính là bao nhiêu?
Theo số liệu ước tính của Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia Lê Xuân Nghĩa được trích dẫn trong khóa luận, lượng ngoại tệ cất trữ trong dân cư ước khoảng 9,7 tỷ USD, tương đương hơn 60% tổng dự trữ ngoại hối của cả nước năm 2009.
4. Ngân hàng Nhà nước đã điều chỉnh biên độ tỷ giá chính thức như thế nào trong năm 2008 và 2009?
Biên độ tỷ giá được điều chỉnh qua các mốc: ±0,75% (24/12/2007), nâng lên ±1% (10/03/2008), ±2% (26/06/2008), ±3% (06/11/2008), mở rộng tối đa lên ±5% (24/03/2009) và điều chỉnh lại mức ±3% cùng với việc phá giá tỷ giá chính thức vào ngày 25/11/2009.
5. Đô la Mỹ (USD) chiếm tỷ trọng bao nhiêu trong hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của Việt Nam?
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2008) được trích dẫn trong khóa luận, đồng USD chiếm khoảng 80% tổng giá trị thanh toán trong hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam, trong khi EUR và các đồng tiền khác chỉ chiếm khoảng 20%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Thị Thùy Nha đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng vận động của dòng luân chuyển ngoại tệ tại Việt Nam giai đoạn 2007 – 2009. Nghiên cứu chỉ ra những điểm nghẽn vĩ mô nghiêm trọng trong thời kỳ khủng hoảng tài chính toàn cầu, đặc biệt là tình trạng thâm hụt ròng dòng ngoại tệ, suy giảm dự trữ ngoại hối và mức độ đô la hóa cao trong nền kinh tế. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào việc phối hợp đồng bộ giữa chính sách tỷ giá và lãi suất, đa dạng hóa tiền tệ thanh toán, xây dựng tỷ giá theo rổ tiền tệ và kiểm soát chặt chẽ thị trường ngoại hối nhằm củng cố an ninh tài chính quốc gia.