chương 1 bao gồm: (1) Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu, (2) Mục tiêu nghiên cứu, (3) Câu hỏi nghiên cứu, (4) Phương pháp nghiên cứu, (5) Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; (6) Ý nghĩa, đóng góp mới của kết quả nghiên cứu và (7) Kết cấu của luận văn. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn Trải qua nhiều năm đổi mới và phát triển, VN đã từng bước hoàn thành các mục tiêu quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong những năm gần đây, nhờ sự quyết tâm của cả bộ máy chính trị, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và Chính Phủ mà nước ta đã và đang cố gắng hoàn thành mục tiêu đưa VN từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia có thu nhập bình quân đầu người vào hàng trung bình; hơn nữa là ngày càng hội nhập sâu rộng với các nước trong khu vực và thế giới.
Đời sống của người dân ngày càng được cải thiện, vị thế và uy tín của nước nhà trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Để hiện thực hóa sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu đến năm 2030 VN chính thức trở thành nước có nền công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm các nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp và định hướng đến năm 2045, VN trở thành nước công nghiệp phát triển hiện đại. Cải cách hành chính là nội dung quan trọng của nền hành chính NN, góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy NN, duy trì sự phát triển của đất nước, qua đó, hiện thực hóa mục tiêu chính trị của Đảng Cộng Sản VN: Xây dựng NN pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chủ thể trực tiếp thực hiện nội dung này chính là các CBCC – những người thực hiện trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ thực thi quản lý hành chính trong khu 2 vực công.
Sự gắn bó tâm huyết của đội ngũ CBCC chính là một trong những mục tiêu vô cùng thiết yếu mà các nhà lãnh đạo và quản trị tại từng đơn vị hành chính cần chú trọng thực hiện. Để hoàn thành được mục tiêu đó thì trọng tâm của vấn đề nằm ở chỗ làm thế nào tạo được ĐLLV, từ đó tăng năng suất làm việc của đội ngũ CBCC. CBCC được biết đến là những công dân ưu tú được tuyển dụng, bổ nhiệm vào các vị trí tại cơ quan NN sau khi trải qua quá trình học tập và tốt nghiệp từ các trường đại học chính quy. Chính sách tạo ĐLLV là công cụ rất quan trọng cho việc duy trì và thúc đẩy công chức làm việc hiệu quả trong các cơ quan NN.
Các CBCC cần đẩy mạnh phong trào thi đua thực hiện công tác cải cách hành chính; phân công, giao việc một cách khoa học, xác định rõ vị trí việc làm. Người được bố trí thực hiện nhiệm vụ phải có trình độ chuyên môn, nắm chắc quy trình giải quyết từng vụ việc cụ thể, ứng dụng thành thạo công nghệ thông tin; thường xuyên được cử đi tập huấn, bồi dưỡng. Trong kiểm tra, đánh giá phải dựa trên hiệu quả công việc, bảo đảm tính công tâm, khách quan; đánh giá, nhận xét đúng người, đúng việc nhằm phát hiện, chấn chỉnh kịp thời những sai sót; kiên quyết xử lý những CBCC có hành vi thiếu trách nhiệm, sai phạm nghiêm trọng xâm hại quyền lợi ích của NN, cơ quan, tổ chức, công dân. Trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính phải đảm bảo công khai minh bạch, nâng cao trách nhiệm, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp thực hiện các dịch vụ công cần thiết.
Đội ngũ CBCC cần nâng cao nhận thức, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ thể hiện tốt vai trò, trách nhiệm của bản thân; không ngừng nâng cao ý thức, trách nhiệm phục vụ nhân dân. Nhờ những nỗ lực quên mình, cống hiến bền bỉ của đội ngũ CBCC mà nền kinh tế VN ngày càng phát triển với tốc độ nhanh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện; các đóng góp đó thật sự đáng được ghi nhận và là nguồn động lực để các CBCC không chỉ dừng lại ở đó mà tiếp tục không ngừng phát huy. Quyết tâm của Chính phủ trong việc xây dựng Chính phủ kiến tạo phát triển và đổi mới phương thức quản lý, điều hành, nhiệm vụ xây dựng đội ngũ 3 CBCC có đủ năng lực và phẩm chất đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và phục vụ nhân dân trong giai đoạn mới đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, trách nhiệm và hiệu quả thực thi công vụ của CBCC vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của nền hành chính hiện đại.
Điều này một phần xuất phát từ việc: Năng lực của đội ngũ cán bộ còn chưa đồng đều, có mặt còn hạn chế, yếu kém; nhiều cán bộ, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tính chuyên nghiệp, làm việc không đúng chuyên môn, sở trường;… Không ít cán bộ trẻ thiếu bản lĩnh, ngại rèn luyện, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Những năm qua không ít công chức có năng lực tốt, trình độ chuyên môn cao, có nhiều năm gắn bó với nghề, nhưng vì một số nguyên nhân mà sẵn sàng từ bỏ khu vực công để chuyển sang khu vực tư nhân và thường được biết đến với tên gọi là chảy máu chất xám. Có một số yếu tố được cho là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, có thể kể đến là: Môi trường làm việc chưa thật sự công bằng, tiền lương chưa đáp ứng được nhu cầu của nhân viên, cống hiến nhiều nhưng cơ hội thăng tiến chưa rõ rệt,… Những tồn tại, hạn chế này ảnh hưởng đến kỷ luật, kỷ cương nền hành chính, ảnh hưởng đến lòng tin của nhân dân và doanh nghiệp, tác động xấu đến kỷ cương xã hội, cần được kiểm định nghiêm khắc, rút kinh nghiệm và khẩn trương khắc phục ở tất cả các cấp, các ngành, đặc biệt là trách nhiệm của người đứng đầu. Nha Trang là một Tp ven biển nổi tiếng và cũng là trung tâm về văn hóa - chính trị - kinh tế - du lịch cốt lõi của tỉnh Khánh Hòa gồm 27 xã phường với số lượng CBCC tương đối lớn.
Số lượng du khách từ trong và ngoài nước đến đây du lịch là rất đông nên từ đó đặt ra yêu cầu về công tác quản lý hành chính, quản lý cư trú đến và đi phải thật sự sát sao, phải thật nghiêm minh; đặc biệt trong thời điểm tình hình dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (Covid-19) đang diễn biến phức tạp trên thế giới. Chỉ cần lơ là trong công tác giám sát, quản lý cách ly các du khách nước ngoài, các kiều bào và du học sinh trở về nước thì đại dịch hoàn toàn có thể lây lan ra toàn thể xã hội theo cấp số nhân. Nha Trang đã phát hiện rất nhiều trường hợp du khách Trung Quốc 4 cư trú bất hợp pháp trên địa bàn; mặc dù kết quả xét nghiệm là âm tính nhưng một lần nữa đã dóng lên hồi chuông cảnh báo trong công tác quản lý của các ngành chức năng, vẫn có các kẻ hở để một số kẻ với mục đích bất chính tiếp tay cho các du khách này tiếp tục ở đây. Mà nguyên nhân xâu xa là đến từ áp lực công việc và ĐLLV để CBCC phấn đấu thực hiện nhiệm vụ.
Một trong những yếu tố khiến CBCC ở Nha Trang chưa mặn mà với công việc hiện tại đến từ mức lương hàng tháng mà mình nhận được. Vật giá mỗi ngày một tăng trong khi CBCC hưởng lương theo ngạch-bậc có cả phụ cấp, nhưng chưa đáp ứng nhu cầu cuộc sống vốn đang rất khó khăn trong thời điểm hiện tại. Làm việc, cống hiến cho đơn vị, tổ chức vài năm mới được tăng lương nhưng bấy nhiêu ấy vẫn chưa thể giải quyết được bài toàn nan giải vốn đã và đang tồn tại ở khu vực công. Mặc dù đã có nhiều nghị định về chế độ, chính sách đối với CBCC cấp xã, phường, thị trấn chẳng hạn như: Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22 tháng 10 năm 2019 của Chính phủ.
Tuy nhiên điều này vẫn chưa đủ, chưa đi sâu đi sát để mà giải quyết tận gốc tình trạng đã và đang diễn ra từ bao lâu nay. Có không ít CBCC hoặc là từ bỏ hoặc là phải kiếm thêm thu nhập từ các nguồn bên ngoài để có thể trang trải cho gia đình một cách đầy đủ hơn bởi ai cũng có nhu cầu làm đẹp, sắm sửa nên mức lương cơ bản thấp đang là một trở ngại thật sự. Bên cạnh đó, sự hứng thú từ công việc hay không có nhiều thử thách tạo cảm giác chán nản, tâm lý muốn an phận khiến những người được đào tạo chính quy phục vụ trực tiếp quyền lợi của nhân dân cũng khó mà làm cho hàng ngũ CBCC vững mạnh toàn diện. Một mặt khác của vấn đề, giữa hàng ngũ CBCC vẫn còn tồn tại những bất cập là do người đứng đầu tổ chức đó chưa thật sự quan tâm đến hay một yếu tố khác là chưa biết rõ nguồn cội, cách động viên một cách căn cơ để tạo ĐLLV, mà thường sử dụng quyền lực hành chính đơn thuần để can thiệp tạo cho nhân viên cảm giác bị gò ép, bắt buộc phải tuân theo.
Mặc dù Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã đưa ra nhiều văn bản chấn chỉnh như: Quyết định số 188/1999/QĐTTg ngày 17/9/1999 về thực hiện chế độ làm việc 40 giờ/tuần; Quyết định số 114/2006/QĐ-TTg ngày 25/5/2006 về thực hiện nghiêm chế độ họp trong hoạt động của cơ quan NN,… 5 nhưng để đánh giá một cách thực tế thì hiệu quả đạt được là không nhiều. Dù cho là nguyên nhân nào đi chăng nữa thì phải thừa nhận một điều đó là hiệu quả quản lý, xử lý công vụ trong các khu vực công đã được cải thiện đáng kể so với giai đoạn trước; tất cả là nhờ vào các chính sách, đường lối chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng, của cả bộ máy chính trị và người dân VN. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó thì khi nhắc đến khả năng đáp ứng nhu cầu về hồ sơ, chứng từ, về thủ tục hành chính vẫn còn rất nhiều bất cập. Những tồn tại còn hiện hữu trên là trở ngại lớn đối với công cuộc cải cách hành chính, làm cho bộ máy NN hoạt động kém hiệu quả.
Để giải quyết được bài toán hóc búa này sẽ không thể thành công nếu đội ngũ CBCC ở Tp.