chương 1, nội dung chương 2 giới thiệu tổng quan về NH Agribank Việt Nam, hiện trạng DV TGTK và mức độ hài lòng của KH về DV TGTK ở NH Agribank Việt Nam. Phương pháp thực nghiệm ứng dụng trong bài tiểu luận cũng được tác giả trình bày. Kết quả nghiên cứu. Nội dung chương trình bày lý thuyết miêu tả số liệu, phân tích thang đo lường và độ tin cậy, kiểm định nhân tốc EFA, phân tích mô hình hồi quy bội và phân tích sự khác biệt giữa mức độ hài lòng của KH với các dữ liệu khác nhau.
Kết luận và kiến nghị. Tác giả nêu một vài đề xuất, kiến nghị về mặt quản lý, đối với NH để nâng cao sự hài lòng của KH gửi tiền tiết kiệm. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM 1. Khái niệm về dịch vụ tiền gửi tiết kiệm 1.
Khái niệm về dịch vụ Hiện nay, trên thực tế có nhiều khái niệm khác nhau cho DV, nhưng phần lớn các khái niệm đề cập đến các đặc tính cốt lõi của DV như là sự vô hình, tính không thể tách rời (sản xuất và tiêu dùng song song), tính không đồng bộ và tính không thể lưu trữ. DV là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho KH làm hài lòng nhu cầu và mong đợi của KH (Zeithaml & Bitner, 2000) DV là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể hay không gắn liền với sản phẩm vật chất (Philip Koller). Hầu hết các nghiên cứu đều xem lĩnh vực DV bao gồm tất cả những hoạt động kinh tế tạo ra sản phẩm không mang tính vật chất, được sản xuất và tiêu thụ đồng thời và mang lại những giá trị gia tăng dưới các hình thức (như sự tiện lợi, sự thích thú, sự kịp thời, sự tiện nghi và sự lành mạnh) mà các lợi ích vô hình này về bản chất dành cho KH đầu tiên (Quinn và ctg, 1987) Tóm lược, việc cung cấp DV đòi hỏi một chuỗi các bước tồn tại bên trong: bao gồm hoạt động ẩn sau, hoạt động tiền lệ và hoạt động hiện thực.
Quá trình cung cấp DV cũng yêu cầu sự giao tiếp chặt chẽ giữa nhà cung cấp và KH để thỏa mãn nhu cầu theo mong muốn của KH và tạo ra giá trị cho họ. 7 Cơ sở vật chất Tổ chức Khách Dịch vụ nội bộ hàng Nhân viên giao tiếp dịch vụ Hình 1. Mô hình sản xuất cung cấp DV Nguồn: Lưu Văn Nghiêm (2008) 1. Đặc điểm của dịch vụ DV là một loại hình hàng hoá đặc thù, DV có những nét đặc thù riêng biệt mà hàng hoá hiện hữu không có.
Do đó, phải hiểu được những đặc trưng riêng biệt có của DV mới có thể làm sáng tỏ được khái niệm về chất lượng của DV (Lưu Văn Nghiêm, 2008). Và DV có 4 đặc trưng tiêu biểu như sau: - Không hiện hữu: Đây là đặc trưng căn bản của DV. Không hiện hữu dưới dạng vật chất, DV là vô hình. Tuy vậy, sản phẩm dịch vụ (SPDV) lại mang đậm tính vật chất (ví dụ nghe bài nhạc hay, tiếng hát không hiện hữu dưới hình thái vật chất nào, không nghe được vật thể, còn âm thanh là vật chất).
Việc sử dụng DV, quản lí hoạt động sản xuất cung cấp DV gặp rất nhiều trở ngại bởi tính chất không hiện hữu. Để nhận diện DV trước hết cần xác định được những yếu tố vật chất trong môi trường hoạt động DV, như: các thiết bị, vật dụng, đồ trang trí, ánh sáng, hình ảnh, âm thanh và con người,…có liên quan chặt chẽ với hoạt động cung cấp DV. Người tiêu dùng cũng có thể dựa trên các yếu tố biểu thị CLDV qua: thương hiệu, uy tín của 8 nhà cung cấp DV, hình ảnh, giá thành hay miêu tả SPDV hoặc của những người trước đây đã từng tiêu dùng DV tương tự, hoặc thông qua hoạt động quảng cáo, tiếp thị DV,…nhằm lựa chọn được DV có chất lượng đáp ứng mong muốn của KH. - Không nhất quán: Do chất lượng SPDV tuỳ thuộc vào người cung cấp DV, chủ thể tạo ra DV cho nên CLDV cũng không nhất quán và khó xác định.
DV được cung cấp giống hệt nhau tại mỗi thời điểm, phụ thuộc vào phương thức phục vụ, cung cấp DV, nhân viên phục vụ, thời gian và địa điểm phục vụ. nên nói chung, gần như không thể nào cung ứng DV một cách giống hệt nhau, cũng không thể nào đảm bảo được rằng DV được cung cấp tới KH giống với DV được lên lịch và được công bố. Do đó, phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động của nhân viên nhằm cung ứng DV và thoả mãn KH. Khi cung cấp DV thì nhân viên có ảnh hưởng và tác động rất nhiều lên CLDV, vì thế hoạt động của nhân viên luôn được KH thẩm định.
- Không tách rời: DV không thể phân tách trong quá trình sản xuất và tiêu dùng. Khi DV đang được tạo ra sẽ đồng nghĩa với việc tiêu dùng DV ấy ngưng lại và khi kết thúc quá trình cung ứng cũng đồng nghĩa với việc tiêu dùng DV ấy ngưng lại. Sự cung cấp và tiêu dùng DV xảy ra song song, không thể nào tách rời, nhưng một mặt nọ thì sẽ không có mặt kia mà. KH không can thiệp được sẽ tác động đến quá trình cung cấp DV hoặc quá trình sử dụng DV.
KH sử dụng DV dựa trên nhận thức chủ quan của KH là lớn. Do vậy, CLDV tuỳ thuộc một phần nào theo trạng thái tâm lí của KH. - Không lưu trữ: Khi tạo thành DV được thực hiện và chấm dứt ngay sau đó. Do vậy, DV nói chung là không thể lưu giữ được như các sản phẩm hàng hoá, tức là SPDV chẳng thể sản xuất ra hay cất vô nhà kho đợi bán, cũng chẳng thể lưu trữ hoặc sử dụng.
SPDV cũng không thể thanh lý, thu hồi hay bán lại. KH có thể được hoàn trả DV trong trường hợp họ không vừa ý, tuy nhiên không thể nhận ngay được DV. Phân loại dịch vụ DV là một bộ phận của nền kinh tế ngoài công nghiệp sản xuất hàng hoá hiện hữu, nông nghiệp và khai khoáng. Việc phân loại DV được chia theo 2 nhóm: theo nội hàm, theo mức độ liên hệ KH (có thông tin phản hồi và không có thông tin phản hồi.
(1) Theo nội hàm: Thương mại ; Vận chuyển, phân phối, lưu kho; NH, bảo hiểm; Kinh doanh bất động sản; DV bưu chính viễn thông; DV công cộng, DV khối công quyền; DV chăm sóc sức khoẻ; DV y tế; DV đào tạo, trông trẻ (2) Theo mức độ liên hệ với KH: Hoạt động DV luôn có sự liên hệ với KH song mức độ liên hệ khác nhau. Có loại người cung ứng phải thường xuyên liên lạc trực tiếp với KH, thu nhận thông tin để thực hiện DV. Ngược lại có loại liên hệ thấp DV được thực hiện không có thông tin phản hồi. Cụ thể như sau: + DV thuần tuý: Chăm sóc sức khoẻ, Khách sạn, Giao thông công cộng, Đào tạo, Nhà hàng.
+ DV pha trộn: chi nhánh văn phòng, NH, DV về bất động sản, DV máy tính, bưu điện, DV tang lễ, du lịch,. + DV bao hàm sản xuất: hàng không, DV khối công quyền, DV sửa chữa, DV thương nghiệp,. Tiền gửi tiết kiệm Theo văn bản số 14/VBHN-NHNN ngày 21 tháng 05 năm 2014 về việc ban hành qui định về TGTK, số tiền cá nhân gửi vào TGTK sẽ được ghi nhận trên thẻ tiết kiệm và được trả lãi suất theo quy định của tổ chức chấp nhận TGTK. Đồng thời, số tiền này cũng sẽ được bảo hiểm theo luật pháp về bảo hiểm tiền gửi.
Người thực hiện thao tác liên quan đến TGTK được xem là người thực hiện gửi tiền. Người gửi tiền có thể là chủ nhân của TGTK, hoặc cộng sở hữu TGTK, hoặc người giám hộ hoặc người đại diện pháp lý của chủ nhân TGTK, cộng sở hữu TGTK. 10 Yêu cầu trong quá trình thực hiện TGTK: - Mọi người Việt Nam khi đạt đến tuổi 18 trở lên đều được coi là có khả năng hành vi dân sự theo quy định của pháp luật dân sự. Tương tự, người nước ngoài sống và làm việc hợp pháp tại Việt Nam cũng khi đến tuổi 18 trở lên được xem như có đủ khả năng hành vi dân sự theo quy định của luật pháp Việt Nam.
Họ có thể thực hiện mọi giao dịch liên quan đến tài sản và quyền lợi theo quy định của pháp luật. - Cá nhân Việt Nam hoặc người nước ngoài đang cư trú và làm việc hợp pháp tại Việt Nam, nếu chưa đủ 15 tuổi hoặc chưa đủ 18 tuổi nhưng đã có tài sản riêng đủ để đảm bảo việc thực hiện các nghĩa vụ dân sự theo quy định của Luật Dân sự, thì được phép tiến hành các giao dịch liên quan đến Tài sản và Giao kèo Thương mại khác. Chỉ được tiến hành các giao dịch liên quan đến Thẻ Ghi Nợ Tín Dụng (TGTK) với người đã được ủy quyền hoặc người đại diện theo quy định của pháp luật cho người chưa thành niên, người không có năng lực hành vi dân sự, hoặc người có hạn chế năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật. Các sản phẩm dịch vụ tiền gửi tiết kiệm Các loại tiền gửi dưới hình thức TGTK bao gồm việc đặt tiền có kỳ hạn hoặc không kỳ hạn, cũng như chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, và các loại chứng chỉ khác mà tổ chức (ngoại trừ tổ chức tín dụng) có thể sử dụng theo quy định của Thông tư số 04/2011/TT-NHNN ngày 10 tháng 03 năm 2011.
Dựa vào thời gian gửi tiền, hình thức TGTK được phân thành hai loại: TGTK không kỳ hạn và TGTK có kỳ hạn. Kỳ hạn của việc đặt tiền sẽ được Ngân hàng quy định theo từng trường hợp cụ thể. TGTK không kỳ hạn: Theo quy định của TGTK, khách hàng được phép gửi tiền và rút tiền mà không cần thông báo trước vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày làm việc của tổ chức nhận TGTK. 11 Trong việc lựa chọn hình thức tiền gửi tiết kiệm, khách hàng đặt sự an toàn và thuận tiện lên hàng đầu, hơn cả việc sinh lời.
Với ngân hàng, do khách hàng có thể rút tiền mọi lúc nên ngân hàng phải đảm bảo sẵn có số dư để thanh toán và phải có kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Vì vậy, ngân hàng sẽ trả lãi suất rất thấp cho số tiền gửi này (khoảng 0,2% mỗi tháng). TGTK có kỳ hạn: Là TGTK, theo đó người gởi tiền cam đoan với bên vay TGTK trước kỳ hạn gởi tiền.