Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và hàm ý 12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương 2, trình bày cơ sở lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu, tổng hợp các nghiên cứu trước đây. Từ cơ sở lý thuyết đề xuất mô hình nghiên cứu, giải thích mối quan hệ của các nhân tố và đưa ra giả thuyết nghiên cứu. Khái quát về ngân hàng thương mại 2. Định nghĩa Theo Luật các tổ chức tín dụng quy định tại điều 20 số 02/1997/QH10, “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan” (Quốc Hội, 2010).
“Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng số tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”. “Tổ chức tín dụng được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung cấp các dịch vụ thanh toán” (Quốc Hội, 2010). Ngân hàng thương mại (NHTM) là chủ thể hoạt động trên thị trường tiền tệ. Nghiệp vụ chính của ngân hàng thương mại là nhận tiền gửi (vãng lai, tiết kiệm có kỳ hạn và không kỳ hạn) và dùng nguồn vốn này cho vay lại trong nền kinh tế.
Với đặc điểm là chủ thể trên thị trường tiền tệ, các hoạt động của ngân hàng thương mại phần lớn tập trung vào các nghiệp vụ ngắn hạn (Ngô Hướng và Tô Kim Ngọc, 2001: tr 24). NHTM đóng vai trò là chủ thể trung gian và hưởng phần chênh lệch lãi suất giữa chi phí lãi tiền gửi trả cho khách hàng và thu nhập lãi từ các khoản vay. Từ những khái niệm trên, có thể hiểu NHTM thuộc khu vực thể chế tài chính, hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận, quan hệ hoạt động chủ yếu với các tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn và những dịch vụ ngân hàng khác. Vốn của ngân hàng thương mại Trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng vốn vừa là phương tiện kinh doanh, đồng thời cũng là đối tượng kinh doanh của NHTM và đây cũng là đặc thù riêng mà các doanh nghiệp trong các ngành khác không có.
Do vậy, các NHTM cần phải có lượng vốn tương ứng với hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo Trần huy hoàng (2007), cơ cấu nguồn vốn của NHTM bao gồm: Vốn điều lệ và các quỹ, vốn huy động, vốn vay, vốn khác. Vốn điều lệ và các quỹ: Vốn điều lệ ban đầu được hình thành từ các nguồn vốn khác nhau, tùy thuộc vào hình thức sở hữu là ngân hàng nhà nước (NHNN), cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng vốn điều lệ có xu hướng tăng thông qua được cấp bổ sung hoặc phát hành cổ phiếu, hoặc kết chuyển từ quỹ dự trữ tăng vốn điều lệ theo quy định của pháp luật.
Vốn điều lệ không phải là nguồn vốn chủ lực trực tiếp phục vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng thương mại nhưng vốn điề lệ được sử dụng xây dựng, mua tài sản cố định, trang thiết bị chuyên dùng… tạo cơ sở vật chất ban đầu cho ngân hàng. Vốn điều lệ càng lớn, ngân hàng có thể đa dạng hóa hoạt động kinh doanh của mình. Vốn điều lệ là một yếu tố quan trọng tạo niềm tin, uy tín cho khách hàng. Các quỹ cho ngân hàng bao gồm: quỹ dự phòng bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ đầu tư phát triển, quỹ phúc lợi, khen thưởng và các quỹ khác.
13 Vốn huy động: Nguồn vốn huy động hình thành từ tiền gửi, tiền gửi tiết kiệm của ngân hàng hoặc phát hành giấy tờ có mệnh giá của NHTM, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng với nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng. Đây là nguồn vốn chủ yếu sử dụng trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng. Nguồn vốn huy động chiếm tỷ lệ rất lớn trong tổng vốn kinh doanh của NHTM. Vốn vay: Ngoài nguồn vốn tự có, nguồn vốn huy động, NHTM có thể vay vốn đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh.
Vay NHTM dưới hình thức tái cấp vốn như chiết khấu, tái chiết khấu các chứng từ có giá, cấm cố giấy tờ có giá, vay lại theo hợp đồng tín dụng… Vay của các NHTM khác qua thị trường liên ngân hàng. Vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng quốc tế. Nguồn vốn khác: vốn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính, các quỹ, NHNN để thực hiện các chương trình dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh, vốn tiếp nhận để cho vay ủy thác, vốn chiếm dụng của khách hàng trong quá trình hoạt động của ngân hàng… 2. Tiền gửi tiết kiệm 2.
Khái niệm Theo Quy chế về tiền gửi tiết kiệm (Ngân hàng nhà nước, 2004) đưa ra giải thích về khái niệm tiền gửi tiết kiệm thì “Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi”. Tiền gửi tiết kiệm có thể hiểu là một dạng tiền gửi ngân hàng với bản chất là một phần thu nhập của cá nhân người lao động chưa sử dụng cho tiêu dùng gửi vào ngân hàng với mục đích tiết kiệm hay chính là tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng một phần lãi từ số tiền đó. Trong lĩnh vực tiêu dùng cá nhân, để tích lũy tiền tệ có thể sử dụng biện pháp tiền gửi tiết kiệm. Khi gửi tiền vào ngân hàng, khách hàng được nhận một sổ tiết kiệm coi như giấy chứng nhận gửi tiền vào ngân hàng.
Số tiền gửi vào ngân hàng sẽ được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Đến thời hạn, khách hàng sẽ rút tiền và nhận được một khoản tiền lãi. Phân loại tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có thể được phân loại theo kỳ hạn hoặc theo cách gửi tiền (Phan Thị Thu Hà, 2007). Phân loại theo kỳ hạn thì tài khoản tiết kiệm được chia thành tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn.
Phân loại theo cách gửi tiền thì tiền gửi tiết kiệm được chia thành tiết kiệm gửi lẻ - rút gọn, tiết kiệm gửi gọn – rút lẻ và tiết kiệm gửi gọn – rút gọn. * Căn cứ vào kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Tiền gửi tiết kiệm mà khách hàng cá nhân hoặc tổ chức có tiền tạm thời nhàn rỗi với mục đích nhờ ngân hàng cất trữ, bảo quản hộ tài sản, tích lũy tài sản, ngân hàng sẽ trả cho khách hàng với lãi suất khuyến khích thường rất thấp nhưng khách hàng có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Với loại tiền gửi không 14 kỳ hạn này thì ngân hàng khó lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Hiện tại theo quy định của NHNN thì mức lãi suất của loại hình tiền gửi không kỳ hạn VNĐ được áp dụng tối đa là 1% năm.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: Hình thức tiết kiệm mà khách hàng cá nhân hoặc tổ chức có nhu cầu gửi tiền với mục đích chủ yếu là hưởng lãi căn cứ vào thời hạn chọn khi gửi tiền, khách hàng chỉ có thể rút tiền và hưởng lãi sau khi hết kỳ hạn gửi tiền. Với loại tiền gửi có kỳ hạn này thì ngân hàng dễ dàng lên kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng. Đa số khách hàng lựa chọn loại hình này, khách hàng chủ yếu là công nhân viên, hưu trí vì loại hình tiền gửi có kỳ hạn sẽ tạo cho họ có được khoản thu nhập ổn định và thường xuyên, đáp ứng nhu cầu chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý. Vì vậy, lãi suất có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút đối tượng khách hàng này.
Lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn lãi suất tiền gửi không kỳ hạn. Ngoài ra, mức lãi suất còn thay đổi tùy loại kỳ hạn gửi, tùy loại đồng tiền gửi tiết kiệm (VNĐ, USD, EUR hoặc vàng), và tùy theo uy tín và rủi ro của ngân hàng nhận gửi tiền. Để khuyến khích và thu hút khách hàng gửi tiền, ngân hàng cho khách hàng rút tiền gửi trước hạn nếu có nhu cầu và không hưởng tiền lãi định kỳ, được hưởng tiền lãi không kỳ hạn hoặc phải phân chia các loại: Tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi định kỳ, tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi cuối kỳ, tiền gửi kỳ hạn lãnh lãi theo định kỳ. Tiền gửi tiết kiệm khác: Đối với cá nhân có tiền gửi trên tài khoản thanh toán như séc cá nhân, thẻ thanh toán, rút tiền mặt, ngân phiếu… Đối với tổ chức có tiền gửi thanh toán nhằm mục đích phục vụ các giao dịch thanh toán của tổ chức và nhằm đảm bảo an toàn cho tài sản.
* Căn cứ cách gửi tiền: Căn cứ vào cách gửi và rút tiền tiết kiệm của khách hàng mà tiền gửi tiết kiệm được phân thành 03 loại chủ yếu: tiết kiệm gửi lẻ - rút gọn, tiết kiệm gửi gọn – rút lẻ và gửi gọn – rút gọn, để đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong việc phân bố thu nhập và chi tiêu khác nhau.1 trình bày tóm tắt nội dung các cách gửi và rút tiền. 1 Phân loại tiền gửi tiết kiệm theo cách gửi tiền STT Cách gửi Nội dung 1 Tiết kiệm gửi Đây là hình thức tiết kiệm gửi góp, hàng tháng khách hàng lẻ - rút gọn trích một phần thu nhập của mình gửi vào ngân hàng để sau một thời gian thành một khoản tiền tích lũy. 2 Tiết kiệm gửi Đây là hình thức tiết kiệm linh hoạt, khách hàng gửi vào gọn - rút lẻ một lần, khi cần có thể rút một phần gốc và được hưởng lãi của phần gốc đó theo thời gian thực gửi với lãi suất không kỳ hạn. 3 Tiết kiệm gửi Đây là hình thức tiết kiệm thông dụng nhất.
Khách hàng gửi gọn - rút gọn vào một lần, cố định thời gian gửi và lãi suất. Khi đến hạn mới được rút gốc và hưởng lãi.