Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1.Các nghiên cứu ở nước ngoài Mặc dù có ảnh hưởng tích cực với việc áp dụng công nghệ, các tô chức cộng đồng này cũng không tránh khỏi những tác động tiêu cực như là van đề về hành vi ăn theo (free-rider problems). Foster và Rosenzweig (2009) khi nghiên cứu việc áp dụng các công nghệ Xanh tại Ấn Độ chỉ ra việc học từ mạng lưới xã hội làm tăng khả năng sinh lời từ việc áp dụng công nghệ mới, tuy nhiên người nông dân dường như đang hưởng lợi miễn phí từ các kinh nghiệm đắt giá từ người hàng xóm của họ. Bandiera và Rasul (2020) cho thấy, việc học từ bên ngoài có thể tạo ra các hiệu ứng trái chiều, càng có nhiều người tham gia thử nghiệm công nghệ mới, lợi ích của việc tham gia vào cộng đồng này càng tăng lên, đồng nghĩa với việc càng có nhiều người hưởng lợi miễn phí từ việc ăn theo kinh nghiệm của người khác.
Do những ảnh hưởng mâu thuẫn này, Bandiera và Rasul (2002) đã đưa ra một đường cong hình chữ U thé hiện việc áp dụng công nghệ của mỗi cá nhân, hiệu ứng mạng chỉ mang ý nghĩa tích cực khi tỉ lệ áp dụng thấp, nó sẽ đổi chiều khi tỉ lệ áp dụng công nghệ tăng cao. Thu thập thông tin về một công nghệ mới là một yếu tố khác quyết định việc áp dụng công nghệ. Yếu tố này cho phép nông dân tìm hiểu về sự tồn tại cũng như việc sử dụng công nghệ có hiệu quả và tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng nó. Người nông dan chỉ áp dụng công nghệ mà họ có hiểu biết về nó.
Tiếp cận thông tin về công nghệ làm người dân chắc chắn hơn về hiệu suất của công nghệ; do đó họ có thê thay đối đánh giá chủ quan của cá nhân sang đánh giá khách quan hơn (Caswell và cộng sự, 2021; Bonabana-Wabbi, 2022). Thu nhập phi nông nghiệp đã được chứng minh có ảnh hưởng vô cùng tích cực đến việc áp dụng công nghệ. Lý do chủ yếu là hoạt động phi nông nghiệp đóng vai trò chiến lược quan trọng giúp người nông dân vượt qua rao cản tín dụng mà họ đang phải đối mặt ở nhiều nước đang phát triển (Reardon và cộng sự, 2017). Thu nhập phi nông nghiệp là nguồn thu thay thế cho vốn vay của các nền kinh tế nông nghiệp nơi thị trường tín dụng thiếu hụt (Ellis và Freeman, 2004; Diiro, 2013).
Theo Diiro (2019), thu nhập phi nông nghiệp dự kiến sẽ cung cấp cho nông dân vốn dé mua vật tư nông nghiệp đầu vào giúp nâng cao năng suất như giống mới và phân bón. Ví dụ, trong nghiên cứu về tác động của thu nhập phi nông nghiệp đối với mức độ áp dụng các giống ngô cải tiến và năng suất ngô thu hoạch tại Uganda, Diiro (2013) cho biết mức độ áp dụng công nghệ và chi tiêu mua sắm đầu vào cao hơn đáng kề giữa các hộ gia đình có thu nhập phi nông nghiệp và các gia đình không có thu nhập phi nông nghiệp. Tuy nghiên, không phải tất cả các công nghệ đều cho thấy mối quan hệ tích cực giữa thu nhập phi nông nghiệp và việc áp dụng công nghệ đó. Một số nghiên cứu về công nghệ sử dụng nhiều lao động đã cho thấy mối quan hệ trái chiều giữa thu nhập phi nông nghiệp và việc áp dụng công nghệ.
Theo Goodwin và Mishra (2004) việc theo đuôi thu nhập phi nông nghiệp có thé làm giảm việc áp dụng công nghệ hiện đại do số lao động gia đình được phân công làm nông giảm di đáng kể. Yếu tổ tiếp cận tin dụng cũng là góp phần kích thích việc áp dụng công nghệ (Mohamed và Temu, 2008). Các nhà khoa học tin rằng việc tiếp cận tín dụng thúc đây việc áp dụng các công nghệ có tính rủi ro thông qua việc xoá bỏ rao cản thanh khoản cũng như tăng khả năng chiu rủi ro của hộ gia đình (Simtowe va Zeller, 2006). Lý do chủ yếu là nếu đi vay, hộ gia đình có thé giảm thiểu rủi ro nhưng chiến lược đa dạng hoá thu nhập trở nên không hiệu quả và tập trung nhiều vào các khoản đầu tư rủi ro nhưng hiệu quả (Simtowe và Zeller, 2006).
Do đó, các nhà hoạch định chính sách cần phải cải tiến hệ thống tín dụng nhỏ hiện tại dé dam bao rằng các hộ nông dân vừa và nhỏ có thể tiếp cận nguồn tín dụng, đặc biệt các hộ gia đình có lao động chủ lực là nữ giới (Simtowe và Zeller, 2006). Trong một số trường hợp, cần phải thiết kế các gói tín dụng đáp ứng nhu cầu các nhóm cụ thé (Muzari và cộng sự, 2013). Vì dụ tại Kenya, Chính phủđã bắt đầu một chương trình cung cấp các khoản vay không lãi suất cho thanh niên và phụ nữa. Điều này giúp nâng cao vị thế của phụ nữ và giúp họ áp dụng công nghệ nông nghiệp đề tăng năng suất góp phần tăng trưởng kinh tế.
Yếu tố không kém phần quan trọng quyết định việc áp dụng công nghệ mới trong nông nghiệp là lợi ích thuần của chủ đầu tư từ việc áp dụng công nghệ, bao gồm tat ca các chi phí sử dụng công nghệ mới (Foster va Rosenzweig, 2010). Chi phí của việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp được coi là một trở ngại trong việc áp dụng công nghệ mới. Nghiên cứu do Makokha và cộng sự (2001) về các yếu tố quyết định việc sử dụng phân bón trong canh tác ngô tại huyện Kiambu, Kenya cho thấy chi phí lao động và các chi phí đầu vào cao, không có dau ra và không rõ thời gian thu hoạch tạo ra những trở ngại lớn cho việc sử dụng phân bón. Theo nghiên cứu của Ouma và cộng sự (2002), chi phí thuê lao động là một trong số các yếu tố khác han chế việc sử dụng phân bón và giống lai hạt ở Embu Kenya.
Wekesa và cộng sự (2019) khi phân tích các yếu tố quyết định việc sử dụng giống ngô lai ở các vùng đất thấp ven biên Kenya cho thấy chi phí cao và không có hạt giống là một trong những yếu tố khác giải thích cho tỉ lệ áp dụng công nghệ còn thấp. Việc tiếp cận các dịch vụ khuyến nông cũng được coi là một khía cạnh quan trọng trong việc áp dụng công nghệ. Nông dân thường được thông báo về công nghệ mới, việc sử dụng hiệu quả và lợi ích của nó thông qua các đại lý khuyến nông. Đại lý mở rộng hoạt động như một liên kết giữa các nhà nghiên cứu công nghệ và người sử dụng công nghệ đó.
Điều này giúp giảm chi phi giao dich khi chuyên giao thông tin về công nghệ mới cho nhiều người dân (Genius và cộng sự, 2020). Các đại lý khuyến nông thường hướng đến những người nông dân mà có sức ảnh hưởng trong cộng đồng tại khu vực đó (Genius và cộng sự, 2010). Nhiều tác giả cũng chỉ ra mối quan hệ tích cực giữa các dịch vụ khuyến nông và việc áp dụng công nghệ. Trình độ học van được cho là có ảnh hưởng tích cực đến quyết định của nông dân trong việc áp dụng công nghệ mới.
Trình độ học vẫn tăng khả năng nhận biết, xử lý và sử đụng thông tin liên quan đến việc áp dụng công nghệ mới (Mignouna và cộng sự, 2018; Lavison, 2019; Namara va cộng sự, 2019). Đó là do giáo dục đại học có ảnh hưởng đến nhận thức và suy nghĩ của con người, làm họ cởi mở, đón nhận cái mới và có thể phân tích các lợi ích của công nghệ mới (Waller và cộng sự, 2018). Điều này làm cho việc giới thiệu công nghệ mới trở nên đễ dàng hơn và từ đó có ảnh hưởng nhất định đến quá trình áp dụng công nghệ (Adebiyi và Okunlola, 2020). Tham gia vào một tổ chức xã hội sẽ giúp nâng cao sự tin tưởng, ý tưởng và trao déi thông tin, trau dồi vốn kiến thức xã hội (Mignouna và cộng sự, 2021).
Người nông dân ở trong một tô chức xã hội có thé học hỏi nhau về lợi ích và cách sử dụng những công nghệ mới. Uaiene và cộng sự (2009) cho thay hiệu quả của mạng lưới xã hội rất quan trọng đối với các quyết định cá nhân, và nhất là trong bối cảnh đôi mới nông nghiệp khi người nông dân sẵn sàng chia sẻ thông tin và học hỏi lẫn nhau. Nghiên cứu tầm ảnh hưởng của tổ chức cộng đồng trong việc áp dụng công nghệ ghép chuối mới tại Uganda, Katungi và Akankwasa (2020) cho thấy người nông dân tham gia nhiều các tô chức cộng đồng này có xu hướng tham gia vào việc học hỏi về công nghệ và vì vậy nó làm tăng khả năng họ sẽ áp dụng công nghệ đó. Wandji và cộng sự (2020) khi nghiên cứu nhận thức của nông dân đối với việ c áp dụng công nghệ nuôi trồng thủy sản ở Cameroon.
Nghiên cứu của họ chỉ ra rằng nhận thức của nông dân về nuôi cá đã tạo điều kiện cho sự phát triển của nó. Vì vậy, điều quan trọng là đối với bất kì một công nghệ nào được giới thiệu cho nông dân, người nông dân nên tham gia đánh giá dé tìm ra sự phù hợp với hoàn cảnh của bản thân (Karugia và cộng sự, 2004). Theo Loevinsohn và cộng sự (2020), quyết định của nông dân về việc có áp dụng không và áp dụng công nghệ mới như thế nào được xác định bởi sự tương tác giữa các đặc tính của công nghệ và tập hợp các điều kiện và hoàn cảnh khác. Nghiên cứu sử dụng mô hình lý thuyết TAM dé hình thành cơ sở nền tang cho việc đưa ra quyết định.
Tương tự, quyết định áp dụng công nghệ mới thường là kết quả của việc so sánh lợi ích không chắc chắn của sáng chế mới này với chi phí không chắc chắn khi áp dụng chúng. (Hall & Khan, 2012) nhận định: hiểu biết về các yếu té ảnh hưởng đến quyết định áp dụng công nghệ mới là cần thiết cho các nhà kinh tế nghiên cứu các yêu tố quyết định sự tăng trưởng và cho các nhà hoạch định phổ biến công nghệ TỚI. Các nghiên cứu trong nước Các vấn đề về giới tính trong việc áp dụng công nghệ cao trong nông nghiệp đã được điều tra trong một thời gian dài và hầu hết các nghiên cứu đều đưa ra những bằng chứng khác nhau về vai trò của nam giới và nữ giới trong việc áp dụng công nghệ (Nguyễn Văn Quang, 2020). Trong phân tích tác động của giới tính vào việc áp dung công nghệ, Trần Thanh Trà (2019) đã không tìm thấy mối liên hệ đáng ké nào giữa giới tính và xác suất dé sử dụng giống ngô mới ở Tiền Giang.