chương 1 là những đóng góp của đề tài khi được thực hiện và bố cục của toàn bài. Chương tiếp theo tác giả sẽ tiến hành tổng hợp về các cơ sở lý luận và những lý thuyết nền cho nghiên cứu về các nhân tố tác động đến biến động giá cổ phiếu. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC Trong chương 2, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết cũng như khái niệm, phương pháp đo lường về biến động giá cổ phiếu. Bên cạnh đó, các nghiên cứu thực nghiệm về chủ đề các yếu tố tác động đến biến động giá cổ phiếu cũng được đề cập.
Vì vậy, chương này sẽ thảo luận về các khoảng trống nghiên cứu và định hướng xây dựng mô hình ước lượng. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về giá cổ phiếu 2. Mệnh giá Mệnh giá là giá trị danh nghĩa mà CTCP ấn định cho một cổ phiếu, được ghi trên cổ phiếu và thể hiện số tiền tối thiểu công ty nhận được trên mỗi cổ phiếu đã phát hành.
Nếu công ty không đăng kí chào bán cổ phần ra công chúng thì mệnh giá cổ phần do công ty tự quyết định, trong trường hợp công ty đăng ký phát hành lần đầu ra công chúng, tại Việt Nam mệnh giá mỗi cổ phiếu được xác định tương ứng bằng 10.000 Việt Nam đồng. Căn cứ theo Điều 112 Luật doanh nghiệp 2020, vốn điều lệ của CTCP khi đăng ký thành lập doanh nghiệp sẽ bằng tổng mệnh giá cổ phần các loại đã được đăng ký mua và cổ đông đã thanh toán tiền mua cho công ty. Mệnh giá cổ phiếu không có giá trị thực tế đối với nhà đầu tư khi đã mua cổ phiếu. Mệnh giá cổ phiếu chỉ có ý nghĩa vào thời điểm công ty phát hành cổ phiếu lần đầu nhằm mục đích huy động vốn thành lập công ty.
Giá trị sổ sách Giá trị sổ sách của cổ phiếu thường là giá trị của cổ phiếu được xác định dựa trên cơ sở số liệu sổ sách kế toán của công ty. Trường hợp công ty chỉ phát hành cổ phiếu thường thì giá trị sổ sách của một cổ phiếu thường được xác định bằng cách lấy vốn chủ sở hữu hoặc tổng giá trị tài sản thuần (phần giá trị chênh lệch giữa giá 10 trị tổng tài sản với tổng số nợ) của công ty chia cho tổng số cổ phiếu thường đang lưu hành. Trường hợp công ty phát hành cả cổ phiếu ưu đãi, thì phải lấy tổng giá trị tài sản thuần trừ đi phần giá trị thuộc cổ phiếu ưu đãi rồi mới chia cho số cổ phiếu thường đang lưu hành. Phần giá trị của cổ phiếu ưu đãi được tính theo mệnh giá hoặc giá mua lại tùy thuộc loại cổ phiếu ưu đãi công ty phát hành và cộng với phần cổ tức công ty còn khất lại chưa trả cho cổ đông ưu đãi trong các kỳ trước đó (nếu có).
Việc xem xét giá trị sổ sách, cho phép Cổ đông thấy được số giá trị tăng thêm của cổ phiếu thường sau một thời gian công ty hoạt động so với số vốn góp ban đầu. Giá trị thị trường Giá trị thị trường là giá trị thị trường hiện tại của cổ phiếu thường, được thể hiện trong giao dịch cuối cùng đã được ghi nhận. Giá trị thị trường hay còn được gọi là giá thị trường. Thực tế, giá thị trường của cổ phiếu không phải do công ty ấn định và cũng không do người nào khác quyết định, mà giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng bán nó và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả để mua nó.
Tóm lại, giá thị trường của cổ phiếu được xác định bởi quan hệ cung cầu trên thị trường. Giá trị thị trường cổ phiếu của một công ty phụ thuộc rất nhiều yếu tố, do vậy nó thường xuyên biến động. Biến động giá cổ phiếu Biến động giá cổ phiếu (Stock Price Volatility) viết tắt SPV là dao động về giá của cổ phiếu trong một thời gian xác định, mức độ thay đổi có thể cao hoặc thấp, giảm hoặc tăng hay giữ nguyên. Giá cổ phiếu biến động cung cấp cho nhà đầu tư những cơ hội và khả năng mua chứng khoán với giá rẻ và sau đó bán khi đắt đỏ (mua đáy bán đỉnh) điều này góp phần tạo ra khoản lợi nhuận khi đầu tư.
Mức độ biến động của giá càng lớn thì khả năng xảy ra rủi ro tài chính cho nhà đầu tư càng cao, càng lệch so với số vốn và chi phí ban đầu mà nhà đầu tư đã bỏ ra cho giao dịch mua hay bán cổ phiếu. Trong trường hợp mức độ biến động giá không thay đổi quá nhiều theo chiều hướng tăng hay giảm: một là thể hiện sự không 11 chắc chắn của thị trường khi chưa thể định giá cho cổ phiếu; hai là giá cổ phiếu đã được xác định tại giá thị trường và xuất hiện điểm cân bằng giữa bên mua và bên bán trong giả định cổ phiếu không tồn tại những thông tin tiêu cực, lúc này việc biên độ giá dao động thấp thể hiện giá của cổ phiếu đã đạt đến mức định giá của thị trường, tức mức rủi ro và mức lợi nhuận khi đầu tư cổ phiếu này sẽ dần tiến về không, tuy nhiên vì là một sản phẩm không chắc chắn, rủi ro của cổ phiếu này vẫn còn đó. Có thể xem tỷ suất sinh lời và biến động giá là quan trọng như nhau. SPV là rủi ro mà nhà đầu tư phải chấp nhận đối mặt khi nắm giữ cổ phiếu, nhà đầu tư kỳ vọng TSSL cao để bù đắp cho khoản rủi ro mà SPV có thể mang lại (Markowitz, 1952).
Phương pháp đo lường biến động giá cổ phiếu 2. Đo lường theo biến động quá khứ (Historical Volatility) Mọi sự việc xảy ra trong hiện tại đều có dấu vết từ quá khứ vì vậy các công thức đo lường biến động giá cổ phiếu đều dựa trên những dữ kiện và thông tin sẵn có. Công thức đo lường theo phương thức này không cố định và sử dụng các phương pháp thống kê như độ lệch chuẩn hoặc tính toán các chỉ số đặc biệt dựa trên dữ liệu lịch sử của giá. ➢ Độ lệch chuẩn (Standard Deviation) Độ lệch chuẩn là phương pháp đo lường phổ biến nhất để tính toán SPV (Handayani và cộng sự, 2018) bằng cách đo lường mức độ phân tán của giá cổ phiếu xung quanh giá tham chiếu (trị trung bình – mean) của giá.
Công thức tính độ lệch chuẩn như sau: ∑𝑛 (𝑥 − 𝑥̅ )2 σ = √ 𝑖=1 𝑖 𝑛 Trong đó: σ là độ lệch chuẩn. xi là giá trị của mỗi quan sát. 12 𝑥̅ là giá trị trung bình của tất cả các quan sát. n là số lượng quan sát.
➢ Biến động phần trăm (Percentage Change) Biến động giá cổ phiếu cũng có thể được tính bằng tỷ lệ phần trăm của sự thay đổi giá cổ phiếu. Công thức tính biến động phần trăm: 𝑃1−𝑃0 SPV = ∗ 100% 𝑃0 Trong đó: P1 là giá cổ phiếu tại thời điểm hiện tại. P0 là giá cổ phiếu tại thời điểm trước đó. Phương pháp giá trị cực biên Michael Parkinson (1980) đã đề xuất một phương pháp đo lường biến động giá cổ phiếu thông qua việc ước tính sự khác biệt giữa vị trí cực đại và cực tiểu trong mỗi khoảng thời gian, cụ thể công thức mà Parkinson đề xuất sẽ ước tính độ biến động sử dụng số liệu là các mức giá thấp nhất và nhỏ nhất được khớp lệnh trong phiên giao dịch thay vì sử dụng giá đóng cửa hoặc giá đóng cửa điều chỉnh như những phương pháp tính độ biến động truyền thống.
1 H SPV = √ ∑N i 2 i=1 ln( ) 4N ln 2 Li Trong đó: Hi : giá cao nhất trong ngày giao dịch của năm t Li : giá thấp nhất trong ngày giao dịch của năm t N : số ngày giao dịch trong năm t H ln( i ) : logarit tự nhiên của tỷ lệ giá cao nhất và giá thấp nhất. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU 2. Lý thuyết thị trường hiệu quả Lý thuyết thị trường hiệu quả (Efficient market hypothesis) viết tắt là EMH (Fama, 1970) cho rằng giá của một cổ phiếu sẽ phản ánh đầy đủ các thông tin về cổ phiếu đó và sự cạnh tranh thị trường là nguyên nhân dẫn đến sự biến động về giá cổ phiếu. Khi thị trường hoạt động hiệu quả, mọi khoản lợi nhuận/lỗ bất thường nhận được từ thị trường đều có lời giải đáp.
Các mức giá được đưa ra trên thị trường là giá trị hợp lý của công ty vì đã dựa trên những thông tin có sẵn trên thị trường liên quan đến các hành động quản trị, đầu tư, mua bán sáp nhập hay lựa chọn tài trợ của công ty. Từ mức độ phản ứng của thị trường trước thông tin được công bố, giả thuyết này đã thực hiện chia thị trường thành ba dạng: thị trường dạng yếu (weak), dạng trung bình (semi – strong) và dạng mạnh (strong). Thị trường dạng yếu cho rằng TTCK sẽ không phản ứng lại một cách hiệu quả với các sự kiện được dự báo hoặc đã xảy ra sẽ ảnh hưởng tới giá cổ phiếu. Giá cổ phiếu chỉ phản ánh các biến động về giá trong quá khứ.
Vì vậy nhà đầu tư không thể tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc theo dõi sự biến động giá trong quá khứ. Dạng trung bình: giá cổ phiếu sẽ phản ánh toàn bộ các thông tin liên quan đến biến động giá trong quá khứ và các thông tin đại chúng liên quan đến công ty. Giá cổ phiếu sẽ tăng theo thông tin tốt hoặc xấu tuy nhiên nhà đầu tư vẫn gặp khó để tìm và các thông tin khác mà nhà đầu tư cho rằng sẽ có tác động đến giá cổ phiếu, tuy nhiên nhà đầu tư vẫn khó tìm kiếm lợi nhuận trong thị trường dạng này. Thị trường dạng mạnh: giá cổ phiếu phản ánh tất cả các thông tin về biến động giá trong quá khứ, các thông tin về doanh nghiệp đã được công bố và cả thông tin về nội bộ doanh nghiệp hoặc từ nội gián và các chuyên gia phân tích đầu tư.
Nhà đầu tư biết trước được thông tin nội bộ có thể tác động đến giá khiến giá tăng hoặc giảm có thể dễ dàng tìm kiếm lợi nhuận thông qua việc mua bán cổ phiếu. 14 Dù TTCK đang diễn biến theo cấp độ nào thì lý thuyết sẽ chỉ đúng trong giả định rằng không tồn tại chi phí mà nhà đầu tư phải trả để có được thông tin phục vụ cho sự đầu tư cổ phiếu hoặc trường hợp thông tin là công khai như nhau với tất cả mọi người, điều này dường như không thể xảy ra.