CHƯƠNG 1 Trong chương đầu tiên, qua việc xác định mục tiêu, câu hỏi, phương pháp nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu, khóa luận đã đã đề xuất cách tiếp cận vấn đề bao gồm sử dụng phân tích dữ liệu dạng bảng với các mô hình hồi quy và kiểm định để phân tích tác động của yếu tố thị trường đến biến động giá cổ phiếu ngân hàng. Qua khung nghiên cứu chương một đã cung cấp, chương hai sẽ tiếp tục xây dựng trên cơ sở này bằng cách trình bày các lý thuyết liên quan, tổng quan về các nghiên cứu trước đó và khoảng trống nghiên cứu còn tồn tại trong lĩnh vực này. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU Chương thứ hai của nghiên cứu sẽ đưa ra các cơ sở lý thuyết của cổ phiếu và sự biến động giá cổ phiếu. Chương sẽ giới thiệu các phương pháp đo lường sự biến động của cổ phiếu và xác định các lý thuyết liên quan.
Ngoài ra, chương cũng sẽ đánh giá và tổng hợp các nghiên cứu trước đó để tìm ra các yếu tố thị trường có ảnh hưởng rõ nhất đến sự biến động giá cổ phiếu ngân hàng và tìm ra những điểm chưa được khai thác trong các nghiên cứu trước. Cuối cùng, chương sẽ cung cấp cơ sở lý thuyết về tác động của các yếu tố thị trường được chọn đến sự biến động giá cổ phiếu của các ngân hàng thương mại. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CỔ PHIẾU 2. Khái niệm cổ phiếu niêm yết Theo điều 121 của Luật Doanh nghiệp năm 2020, “Cổ phiếu niêm yết là một dạng tài sản trên thị trường chứng khoán, thể hiện quyền sở hữu của cổ đông trong một doanh nghiệp cụ thể”.
Niêm yết cổ phiếu là một phần của quá trình giao dịch trên sàn chứng khoán. Khi một cổ phiếu được niêm yết, điều này cho phép các nhà đầu tư mua và bán chúng một cách an toàn, từ đó tăng tính thanh khoản và sự linh hoạt cho loại tài sản này. Ngoài ra, cổ phiếu đã được niêm yết thường thu hút các nhà đầu tư hơn và tạo ra nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp trong việc huy động thêm nhiều nguồn vốn. Cổ phiếu niêm yết ngoài là một loại hình đầu tư phổ biến, chúng còn đòi hỏi phải tuân thủ chặc chẽ các quy định của sàn giao dịch và các cơ quan nhà nước để đảm bảo tính công bằng và minh bạch.
Quá trình này cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư vì họ có thể để đưa ra quyết định đầu tư dựa trên thông tin đã công bố. Có thể nói, cổ phiếu niêm yết không những được sử dụng làm công cụ đầu tư mà còn góp phần vào phát triển nền kinh tế. Đặc điểm cổ phiếu ngân hàng niêm yết Cổ phiếu được coi là một loại chứng khoán vốn xác nhận rằng cổ đông đã đóng góp tài chính cho doanh nghiệp và thường không có thời hạn. Khi một ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) được thành lập, cổ phiếu được phát hành thông qua phát hành nội bộ hoặc phát hành ra công chúng để tăng vốn điều lệ, hoặc phát hành thêm để mở rộng thêm nguồn vốn.
Cổ phiếu ngân hàng là một công cụ tài chính mà cổ đông có thể thu lợi từ việc sở hữu. Các nhà đầu tư thường mong đợi nhận được cổ tức định kỳ cùng với việc hưởng lợi nhuận từ việc mua bán cổ phiếu. Mức cổ tức có thể ổn định hoặc biến động tùy thuộc vào loại cổ phiếu. Việc đầu tư vào cổ phiếu ngân hàng mang theo một mức độ rủi ro, cổ đông có thể không nhận được cổ tức nếu ngân hàng gặp khó khăn hoặc không được phê duyệt chia cổ tức.
Ngoài ra, cổ phiếu ngân hàng còn có tính thanh khoản, cho phép cổ đông chuyển nhượng chúng cho các bên thứ ba. Ngoài các đặc điểm kể trên, cổ phiếu ngân hàng còn có những đặc điểm khác biệt so với những loại cổ phiếu khác do đặc thù hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đầu tiên, khi một ngân hàng thương mại niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, việc niêm yết cổ phiếu ngân hàng sẽ cần sự chấp thuận của cơ quan quản lý thị trường chứng khoán và cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động ngân hàng. Theo Thông tư số 26/2012/TT-NHNN, để có thể niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam, các tổ chức tín dụng cần phải đáp ứng một số tiêu chí cụ thể.
Cụ thể, các tiêu chí này bao gồm thời gian hoạt động tối thiểu là 02 năm, vốn điều lệ không dưới mức quy định, hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liên tiếp, tuân thủ các hạn chế để đảm bảo an toàn trong hoạt động, tỷ lệ nợ xấu không vượt quá 3% so với tổng dư nợ, thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, không bị phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng trong 12 tháng gần nhất, đủ số lượng và cơ cấu của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, và có bộ phận kiểm toán nội bộ và hệ thống kiểm soát nội bộ đảm bảo phải tuân thủ quy định của pháp luật. Các điều khoản về việc niêm yết cổ phiếu đều nhấn mạnh việc bảo đảm an toàn 10 trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng, điều này cho thấy rằng việc niêm yết cổ phiếu ngân hàng luôn phải tuân thủ các quy định đặc biệt của ngành ngân hàng. Thứ hai, việc cầm cố cổ phiếu của ngân hàng không được phép thực hiện ngay tại ngân hàng thương mại phát hành chúng. Trong nghiệp vụ cho vay có tài sản đảm bảo của ngân hàng, theo quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tuy nhiên, theo quy định của Nghị định số 59/2009/NĐ-CP, việc sử dụng cổ phiếu để cầm cố tại ngân hàng thương mại phát hành ra cổ phiếu đó là không được phép. Vì vậy, các ngân hàng thương mại không được sử dụng cổ phiếu của mình phát hành để sử dụng như một tài sản cầm cố. Thứ ba, cổ phiếu của các ngân hàng thương mại thường chiếm một phần lớn quy mô vốn hóa trong thị trường chứng khoán. Nghị định số 86/2019/NĐ-CP quy định vốn pháp định cho các ngân hàng là 3.000 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với mức vốn điều lệ tối thiểu của các tổ chức niêm yết trên HNX và HOSE lần lượt là 30 tỷ đồng và 120 tỷ đồng.
Do đó, các ngân hàng thương mại thường được phép đăng ký phát hành một lượng cổ phiếu lớn hơn nhiều so với các tổ chức khác, dẫn đến việc giao dịch cổ phiếu ngân hàng luôn chiếm một số lượng giao dịch lớn. Thứ tư, cổ phiếu ngân hàng thường được coi là loại cổ phiếu được hưởng các lợi ích một cách gián tiếp từ các biện pháp và chính sách của Chính phủ và ngân hàng trung ương. Vì ngành ngân hàng thường nhận được sự giúp đỡ từ các cơ quan Chính phủ và ngân hàng trung ương, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn như suy thoái kinh tế hoặc các ngân hàng đang tăng cao nợ xấu. Thứ năm, cổ phiếu ngân hàng là một trong những loại cổ phiếu mà các nhà đầu tư thường đặc biệt nhạy cảm và có ảnh hưởng lớn đối với thị trường chứng khoán.
Theo nhà kinh tế học Rose (2001) “Nếu giá trị của cổ phiếu không tăng như kỳ vọng, các nhà đầu tư hiện tại có thể quyết định bán cổ phiếu của mình, và đối với ngân hàng, việc huy động vốn mới để hỗ trợ cho sự tăng trưởng trong tương lai sẽ trở nên khó khăn hơn”. Ông cũng nêu rõ rằng “Cổ phiếu ngân hàng chịu ảnh hưởng từ các biến động về lãi suất, chu kỳ kinh tế và vùng lãnh thổ thị trường của ngân hàng”. Ngoài 11 ra, nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng chỉ số giá cổ phiếu ngân hàng thường có mối tương quan biến động đồng biến với chỉ số chứng khoán tổng hợp của thị trường. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU 2.
Khái niệm về biến động giá cổ phiếu Theo Baskin (1989), “Biến động giá cổ phiếu là sự thay đổi của giá cổ phiếu qua khoảng cách giữa giá cao nhất và thấp nhất trong một khoảng thời gian nhất định”. Hơn nữa, Guo (2002) cho rằng “Sự biến động giá cổ phiếu thường không thể dự đoán được”. Tương tự, theo Ambrosio (2007) “Biến động giá cổ phiếu là sự thay đổi giá trị của một cổ phiếu trên thị trường trong một khoảng thời gian nhất định. Hệ số này cũng được sử dụng để đo lường rủi ro của cổ phiếu”.
Các nghiên cứu trên cũng đã chỉ ra biến động có thể được quan sát thông qua sự biến đổi của giá cổ phiếu trong quá khứ. Mức độ biến động càng cao, chứng tỏ giá cổ phiếu biến động mạnh trong khoảng thời gian đó, trong khi mức độ biến động thấp đồng nghĩa với việc cổ phiếu ít có sự thay đổi về giá. Theo Kinder (2002), “Vì sự không chắc chắn và biến đổi theo thời gian của giá cổ phiếu, một số nhà đầu tư thích lựa chọn các danh mục đầu tư có mức độ biến động giá thấp hơn để giảm thiểu rủi ro”. Các phương pháp ước lượng độ biến động Độ lệch chuẩn Độ lệch chuẩn là một chỉ số thống kê được sử dụng để đánh giá mức độ phân tán của các giá trị so với giá trị trung bình được phát triển bởi nhà thống kê Karl Pearson (1857 – 1936).
Độ lệch chuẩn thường được sử dụng trong việc tính toán rủi ro liên quan đến độ biến động giá. Khi độ phân tán của dữ liệu tăng lên, độ lệch chuẩn tăng, và sự chênh lệch so với giá trị trung bình cũng lớn hơn. Độ lệch chuẩn giá cổ phiếu được tính theo công thức như sau: ∑(𝑃𝑖 −𝑃𝑚𝑒𝑎𝑛 )2 𝜎=√ (2.1) 𝑛−1 12 Trong đó: 𝜎: độ lệch chuẩn của giá cổ phiếu 𝑃𝑖 : giá cổ phiếu tại thời điểm i 𝑃𝑚𝑒𝑎𝑛 : giá trị trung bình của giá cổ phiếu n: số lượng giá cổ phiếu được quan sát Độ lệch chuẩn có thể tính toán được sự biến động tuyệt đối của giá cổ phiếu so với giá trị trung bình. Tuy nhiên, công thức tính độ lệch chuẩn có thể bị ảnh hưởng bởi giá trị ngoại lai trong dữ liệu, và cần có một lượng dữ liệu đủ lớn để đảm bảo tính chính xác của kết quả.
Đồng thời, độ lệch chuẩn chỉ cung cấp thông tin về mức độ phân tán quanh giá trị trung bình, không phản ánh toàn bộ phân phối của dữ liệu. Phương pháp phương sai Phương sai là một chỉ số thống kê được sử dụng để đánh giá mức độ phân tán của dữ liệu được phát triển bởi nhà thống kê Ronald Fisher (1890 – 1962).