chương 1, tác giả đã giới thiệu được tính cấp thiết của đề tài mà tác giả đã lựa chọn để làm vấn đề nghiên cứu. Bên cạnh đó, tác giả cũng xác định được mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu. Từ đó, xác định được đối tượng và phạm vi nghiên cứu về không gian lẫn thời gian để có thể định hướng được cho các chương sau.” 7 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Khái niệm về thanh khoản và rủi ro thanh khoản của Ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm thanh khoản Thanh khoản là một phàm trù rộng lớn được các nhà nghiên cứu hay tổ chức tín dụng định nghĩa theo nhiều các khác nhau. Theo như Bank for International Settlement (BIS 2009) và ủy ban Basel về giám sát ngân hàng cùng định nghĩa “thanh khoản là một khái niệm chuyên ngành về khả năng đáp ứng các nhu cầu sử dụng vốn khả dụng phục vụ cho hoạt động kinh doanh tại mọi thời điểm như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và giao dịch vốn của ngân hàng”. Còn đối với nghiên cứu của Duttweiler (2009) cho rằng “thanh khoản có thể được xem như khả năng thanh toán tức thời của ngân hàng thương mại khi thể hiện khả năng thuận lợi chuyển đổi từ tài sản thành nguồn tiền mặt”. Nhìn chung, các khái niệm về thanh khoản có thể hiểu một cách đơn giản rằng: thanh khoản đại diện cho sức mạnh tài chính của một ngân hàng và là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính tại mọi thời điểm.
Có thể thấy, thanh khoản hoàn toàn không phải là một số tiền cụ thể hay là một tỷ lệ cố định nào đó, mà thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Do được thực hiện bằng tiền mặt nên phần lớn thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt thanh khoản. Trương Quang Thông (2013) còn cho rằng, khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thặng dư thanh khoản cũng xảy ra nên thiếu những cơ hội kinh doanh đầu tư.
Để đảm bảo tính thanh khoản tốt thì nhà quản trị cần quản lí kiểm soát được các rủi ro liên quan đến thanh khoản. Có nhiều khái niệm nói về rủi ro thanh khoản nhưng theo nghiên cứu của Duttweiler (2009) định nghĩa rằng “thanh khoản là sự dễ dàng chuyển đổi một tài sản cụ thể thành tiền mặt và khi công ty muốn chuyển tài sản thành tiền mặt thì thị trường vẫn còn khả năng chấp nhận các giao dịch”. Còn theo BCBS (2008) định nghĩa “thanh khoản có thể được xem như là khả năng của ngân hàng để 8 tài trợ cho việc gia tăng tài sản và hoàn thành các nghĩa vụ thanh toán khi chúng đến hạn mà không chịu bất kỳ một khoản lỗ nào không thể chấp nhận được”. Nhìn chung, các khái niệm về thanh khoản có thể hiểu một cách đơn giản rằng: thanh khoản đại diện cho sức mạnh tài chính của một ngân hàng và là khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính tại mọi thời điểm.
Có thể thấy, thanh khoản hoàn toàn không phải là một số tiền cụ thể hay là một tỷ lệ cố định nào đó, mà thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn. Do được thực hiện bằng tiền mặt nên phần lớn thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện được nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn sẽ dẫn đến tình trạng thiếu hụt thanh khoản. Trương Quang Thông (2013) còn cho rằng, khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thặng dư thanh khoản cũng xảy ra nên thiếu những cơ hội kinh doanh đầu tư.
Khái niệm rủi ro thanh khoản Các khái niệm về rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại được đưa ra rất đa dạng dựa trên sự nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, giác độ khác nhau, theo Mishkin (2005) nhận định, rủi ro thanh khoản có thể được hiểu là rủi ro khi ngân hàng không có đủ tài sản lưu động để đáp ứng nghĩa vụ tài chính ngắn hạn của mình thông qua việc rút tiền hàng đột ngột của khách hàng. Còn theo Diamond & Dybvig (1983), ngân hàng tồn tại là do ngân hàng đảm bảo thanh khoản tốt hơn thị trường tài chính. Tuy nhiên, bản thân ngân hàng cũng đối diện với rủi ro chuyển đổi và rủi ro rút tiền ồ ạt từ phía khách hàng. Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro dẫn đến mất khả năng thanh toán khi ngân hàng không đủ vốn khả dụng hoặc chưa chuyển đổi kịp các tài sản thành tiền để đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ tài chính khác.
Ngân hàng tạo ra thanh khoản càng cao thì rủi ro ngân hàng phải bán những tài sản kém thanh khoản hơn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản cho khách hàng càng lớn. Duttweiler (2009) cho rằng, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro phát sinh khi mà Ngân hàng thương mại không có khả năng thanh toán cho khách hàng tại một thời điểm nào đó, hoặc do phải huy động nguồn vốn với chi phí cao để đáp ứng nhu cầu thanh toán, hoặc do các nguyên ngân khác làm sụt giảm khả năng thanh toán của 9 Ngân hàng thương mại, từ đó kéo theo là những tác động không tốt. Trước tình hình rủi ro thanh khoản có thể làm suy yếu sức khỏe của hệ thống ngân hàng bất cứ lúc nào. BCBS (2008) đã chia rủi ro thanh khoản ngân hàng thành hai loại rủi ro gồm: rủi ro thanh khoản vốn (funding liquidity risk) và rủi ro thanh khoản thị trường (market liquidity risk) nhằm tăng cường biện pháp thực hiện ngân cao khả năng thanh khoản cho hệ thống Ngân hàng thương mại.
Giữa hai loại rủi ro này luôn có tác động mạnh lẫn nhau, đặc biệt là trong những giai đoạn khủng hoảng. Drehmann và Nikolaou (2013) cho rằng cú sốc đối với thanh khoản vốn có thể dẫn tới việc ngân hàng bán tháo tài sản, làm suy giảm giá trị của tài sản. Khi đó, thanh khoản thị trường thấp sẽ dẫn tới biên độ (margin) cao hơn và làm tăng rủi ro thanh khoản vốn. Theo Thông tư số 08/2017/TT-NHNN ngày 01/08/2017 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng thì rủi ro thanh khoản của NHTM xảy ra khi: Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn; hoặc Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn nhưng phải trả chi phí cao để thực hiện nghĩa vụ đó.
Như vậy dưới góc độ nhà quản trị ngân hàng thì trong trường hợp thiếu hụt hay thặng dư đều dẫn đến rủi ro thanh khoản. Do các nguyên nhân chủ quan như không đủ khả năng cung ứng chuyển đổi tài sản thành nguồn vốn tức thời, hay phải đi huy động các nguồn bên ngoài để đáp ứng nhu cầu. Khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, thiếu cơ hội đầu tư thì thanh khoản bị thặng dư. Trong khi đó, thiếu hụt thanh khoản chính là việc ngân hàng đã không duy trì đủ vốn để hoạt động.
Hậu quả của việc mất cân đối này đôi khi còn nghiêm trọng hơn cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Nó có thể gây ra cho ngân hàng một số vấn đề khó khăn như lòng tin của công chúng bị sụt giảm, bản thân ngân hàng đánh mất cơ hội kinh doanh, mất thị phần, mất khách hàng… 2. Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản Tình trạng rủi ro thanh khoản và khó khăn về thanh khoản tại ngân hàng xuất phát từ những nguyên nhân sau đây: 10 Ngân hàng vay mượn quá nhiều các tài khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và các tổ chức tài chính khác, sau đó chuyển khoản tiền đó thành những tài sản đầu tư dài hạn. Do đó, sẽ dẫn đến tình trạng mất cân xứng giữa ngày đáo hạn của các khoản cho vay và ngày đáo hạn của các nguồn vốn huy động (Berger & Bouwman, 2009).
Sai lầm trong chiến lược quản lý thanh khoản, nhiều ngân hàng thương mại cổ phần chỉ tập trung vào hoạt động cho vay mà không chú trọng cân đối giữa tài sản nợ và tài sản có (Cornett et al. Theo nghiên cứu của Drehmann & Nikolaou (2013), sự thay đổi lãi suất là một trong những nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản. Do tiền gửi của ngân hàng rất nhạy cảm với sự thay đổi của lãi suất đầu tư. Sự thay đổi lãi suất, đặc biệt là lãi suất tiền gửi.
Khi lãi suất đầu tư tăng, một số người gửi tiền rút vốn của họ ra khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lợi cao hơn, còn các khách hàng vay tiền sẽ tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì có lãi suất thấp hơn. Như vậy, sự thay đổi lãi suất ảnh hưởng đến cả khách hàng gửi tiền và vay tiền, cả hai đều tác động đến trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Biến động của tình hình kinh tế vĩ mô: Tình hình kinh tế vĩ mô có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực đến hoạt động các tổ chức tài chính, cụ thể là ảnh hưởng tới trạng thái thanh khoản của ngân hàng. Trước sự thay đổi của nền kinh tế và các yếu tố vĩ mô, các ngân hàng và tổ chức tài chính lớn đã bị thua lỗ nặng nề và dẫn đến tính thanh khoản không còn ổn định (Allen & Gale, 2004) 2.
Đo lường rủi ro thanh khoản 2. Đo lường bằng phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn (Khe hở tài trợ) Khe hở tài trợ xảy ra khi có sự không đồng nhất giữa những khoản cho vay và những khoản ký gửi theo các khoảng thời gian khác nhau (Arif và Nauman Anees, 2012). Việc quản lý tốt khe hở tài trợ là một trong những yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng thanh khoản của ngân hàng khi các nguồn tài trợ ngắn hạn trở nên không còn khả dụng. Một số nghiên cứu trước đây có sử dụng khe hở tài trợ để đo lường rủi 11 ro thanh khoản của các ngân hàng thương mại như Adrian và cộng sự (2010), Acharya và Yorulmazer (2007).
Ở Việt Nam thời gian gần đây có nghiên cứu của Hạnh và Vy (2019) và Đặng Văn Dân (2015), nghiên cứu chỉ ra được nguy cơ rủi ro thanh khoản xảy ra của hệ thống ngân hàng thương mại trong tương lai.