CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN HIỆP ƯỚC BASEL TRONG QTRR TẠI NHTM 1. Tổng quan về rủi ro và QTRR trong các tại các NHTM. Hệ thống CAMELS trong quản trị rủi ro ngân hàng Khi nhắc tới rủi ro tài chính gần như ngay lập tức người ta liên tưởng tới hoạt động quản lý danh mục đầu tư, định giá quyền chọn và các công cụ tài chính khác. Và đương nhiên, các bài viết về định giá trái phiếu công ty, công thức định giá các công cụ tài chính là những khái niệm đã trở nên khá quen thuộc.
Bên cạnh đó có một phần kém quan trọng, đặc biệt trong thực tiễn kinh doanh tài chính, là các ứng dụng dự báo rủi ro tài chính với các khoản vay thể nhân, tính điểm tín dụng và hành vi, phân tích các yếu tố gây ra rủi ro. Sau đây tác giả xin được phép giới thiệu qua về hệ thống phân tích CAMELS: Hệ thống phân tích CAMELS do NCUA (The National Credit Union Administration) công bố năm 1987, được áp dụng nhằm đánh giá độ an toàn, khả năng sinh lời và thanh khoản của NH. Hệ thống phân tích này được ứng dụng tại các TCTD tại Mỹ (khoảng 8.000 tổ chức) và cũng được triển khai bởi các tổ chức giám sát NH ở các nước khác. Theo NCUA (2007) thì phân tích theo chỉ tiêu CAMELS dựa trên 6 yếu tố cơ bản được sử dụng để đánh giá hoạt động của một NH, đó là: Mức độ an toàn vốn, Chất lượng tài sản có, Quản lý, Lợi nhuận, Thanh khoản và Mức độ nhạy cảm thị trường.
Capital Adequacy (Mức độ an toàn vốn): Mức độ an toàn vốn thể hiện số vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động kinh doanh của NH. Thông qua tỉ lệ an toàn vốn người ta có thể xác định được khả năng của NH thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như RRTD, RRHĐ. Các nhà quản lý ngành NH các nước luôn xác định rõ và giám sát các NH phải duy trì một tỉ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR), ở Việt Nam theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 tỉ lệ này 5 được quy định là 9%. Theo chuẩn mực Basel II mà các hệ thống NH trên thế giới áp dụng phổ biến là 8%.
Asset Quality (Chất lượng tài sản có): Chất lượng tài sản có là nguyên nhân cơ bản dẫn đến các vụ đổ vỡ NH. Nếu thị trường biết rằng chất lượng tài sản kém thì sẽ tạo áp lực lên trạng thái nguồn vốn ngắn hạn của NH, và điều này có thể dẫn đến khủng hoảng thanh khoản, hoặc dẫn đến tình trạng đổ xô đi rút tiền ở NH. Management (Quản lý): Nhiều nhà phân tích chuyên nghiệp coi quản lý là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống phân tích CAMELS, bởi vì quản lý đóng vai trò quyết định đến thành công trong hoạt động của NH. Đặc biệt, các quyết định của người quản lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những yếu tố như: Chất lượng tài sản có, Mức độ tăng trưởng của tài sản có, Mức độ thu nhập.
Earnings (Lợi nhuận): Lợi nhuận là chỉ số quan trọng nhất để đánh giá công tác quản lý và các hoạt động chiến lược của nhà quản lý thành công hay thất bại. Lợi nhuận sẽ dẫn đến hình thành thêm vốn, đây là điều hết sức cần thiết để thu hút thêm vốn và sự hỗ trợ phát triển trong tương lai từ phía các nhà đầu tư. Lợi nhuận còn cần thiết để bù đắp các khoản cho vay bị tổn thất và trích dự phòng đầy đủ. Liquidity (Thanh khoản): Thanh khoản có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với NH: Thứ nhất, phải có thanh khoản để đáp ứng yêu cầu vay mới mà không cần phải thu hồi những khoản cho vay đang trong hạn hoặc thanh lý các khoản đầu tư có kỳ hạn.
Thứ hai, cần có thanh khoản để đáp ứng tất cả các biến động hàng ngày hay theo mùa vụ về nhu cầu rút tiền một cách kịp thời và có trật tự. Sensitivity to Market Risk (Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường): Phân tích Mức độ nhạy cảm với rủi ro thị trường nhằm đo lường mức độ ảnh hưởng của thay đổi về lãi suất và/hoặc tỷ giá đến giá trị của lợi nhuận hay vốn cổ phần. Phân tích độ nhạy đo lường khả năng của ban lãnh đạo NH trong việc xác định, giám sát, quản lý và kiểm soát rủi ro thị trường, đồng thời đưa ra dấu hiệu chỉ dẫn định hướng rõ ràng và tập trung. 6 Nhận xét: Mô hình CAMELS được xem là cơ sở để phát triển lên một phương pháp QTRR tân tiến nhất hiện nay đó là Hiệp ước quốc tế về an toàn vốn và giám sát hoạt động NH (Hiệp ước Basel).
Từ những phân tích trên ta sẽ đi nghiên cứu về nền tảng lý luận, về ứng dụng Hiệp ước Basel trong QTRR của các NHTM. QTRR của các ngân hàng thương mại Khái niệm về rủi ro “Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến tổn thất về tài sản của NH, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 190). Theo Bessis1 (2009) thì rủi ro có thể hiểu là sự kết hợp của sự không chắc chắn và tổn thất tiềm tàng theo các kịch bản xấu. Hoạt động NH luôn gắn với rủi ro, một số loại rủi ro cơ bản mà các NH thường gặp phải: rủi ro tín dụng (RRTD), rủi ro hoạt động (RRHĐ), rủi ro thị trường (RRTT) (gồm lãi suất, tỷ giá, giá cả), rủi ro thanh khoản, rủi ro tuân thủ, rủi ro danh tiếng.
Mỗi loại rủi ro trên lại có thể được nhìn nhận khác nhau và cần được đo lường và quản lý phù hợp với các đặc điểm riêng biệt của từng loại rủi ro. Sau đây tác giả xin nêu định nghĩa về ba loại rủi ro mà chúng ta cần quan tâm trong bài này theo BIS (2000, 2001): − RRTD: hiểu một cách đơn giản là khả năng mà người vay NH hoặc đối tác sẽ không đáp ứng được nghĩa vụ của mình theo các điều khoản thỏa thuận. Gồm rủi ro giao dịch (rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm, rủi ro nghiệp vụ) và rủi ro danh mục (rủi ro nội tại, rủi ro tập trung). + Rủi ro lựa chọn: nguyên nhân là do quá trình đánh giá, phân tích tín dụng khi lựa chọn phương án vay vốn hiệu quả để quyết định cho vay.
1 Joël Bessis là Giáo sư tại trường HEC Paris. 7 + Rủi ro đảm bảo: phát sinh từ rủi ro liên quan đến các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng vay, các loại tài sản bảo đảm, hình thức bảo đảm, tỷ lệ cho vay/giá trị tài sản. + Rủi ro nghiệp vụ: phát sinh do công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, gồm kỹ thuật xử lý khoản vay có vấn đề và hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. + Rủi ro nội tại: là rủi ro mà nguyên nhân phát sinh là do những yếu tố, đặc điểm hoạt động riêng bên trong mỗi khách hàng, ngành kinh tế.
+ Rủi ro tập trung: phát sinh do tập trung vốn cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong một vùng địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. − RRHĐ: là rủi ro gây tổn thất do nguyên nhân các quy trình, con người (gian lận, thiếu trách nhiệm.) và các hệ thống nội bộ không đạt yêu cầu, hoặc bởi các yếu tố, sự kiện bên ngoài. Khái niệm này bao gồm rủi ro pháp luật, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro uy tín doanh nghiệp. Phân loại RRHĐ: Rủi ro liên quan đến mô hình tổ chức, cán bộ và an toàn nơi làm việc; liên quan đến cơ chế chính sách, quy định; gian lận nội bộ; yếu tố bên ngoài; quá trình xử lý công việc; hệ thống công nghệ thông tin; thiệt hại tài sản.
− RRTT: là rủi ro tổn thất phát sinh nội và ngoại bảng do biến động của các yếu tố thị trường thay đổi như thay đổi lãi suất, tỷ giá, biến động giá chứng khoán, giá cả hàng hóa… Rủi ro thị trường thể hiện trong các trường hợp: + Rủi ro chi phí nếu lãi suất thay đổi; + Rủi ro tiền tệ nếu danh mục đầu tư gồm nhiều loại tiền khác nhau; + Rủi ro thanh khoản nếu tính khả mại của tài sản trở nên thấp… Khái niệm về quản trị rủi ro: Hiện nay có nhiều trường phái nghiên cứu quản trị rủi ro nhưng chưa có khái niệm thống nhất về vấn đề này. Theo Trần Huy Hoàng (2011) quan điểm của trường 8 phái mới được nhiều người tán đồng cho rằng quản trị rủi ro cần quản trị tất cả mọi loại rủi ro của NH một các toàn diện. Nói chung, QTRR là quá trình các NHTM áp dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị NH vào hoạt động kinh doanh của NH mình để giám sát phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác để ngăn chặn tổn thất thiệt hại cho NH, đồng thời không ngừng nâng cao sức mạnh và uy tín của NH trên thương trường. Có thể thấy QTRR là nhu cầu tất yếu đặt ra đối với tất cả NH trong quá trình hoạt động.
Việc QTRR thường được thực hiện theo năm bước như sau: − Nhận dạng rủi ro: Điều kiện tiên quyết để QTRR là phải nhận dạng được rủi ro. Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục và có hệ thống các hoạt động kinh doanh của NH, bao gồm: việc theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và toàn bộ hoạt động của NH nhằm thống kê được tất cả các loại rủi ro, kể cả dự báo những loại rủi ro mới có thể xuất hiện trong tương lai, để từ đó có các biện pháp kiểm soát, tài trợ cho từng loại rủi ro phù hợp. − Phân tích rủi ro: là việc tìm ra nguyên nhân gây ra rủi ro. Nhằm đề ra biện pháp hữu hiệu để phòng ngừa rủi ro.
Trên cơ sở tìm ra các nguyên nhân, tác động đến các nguyên nhân làm thay đổi chúng, qua đó sẽ phòng ngừa rủi ro một cách hiệu quả hơn. − Đo lường rủi ro: Một khi các rủi ro đã được xác định, chúng ta phải đánh giá được về xác suất phát sinh rủi ro và mức độ tổn thất. Đo lường rủi ro chính xác và kịp thời là rất cần thiết cho hệ thống quản lý rủi ro hiệu quả.