CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo Pháp lệnh của Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam ban hành ngày 24/05/1990: “NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thƣờng xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phƣơng tiện thanh toán.” [3] Theo quy định tại Điều 4, Luật tổ chức tín dụng năm 2010: “Ngân hàng thƣơng mại là loại hình ngân hàng đƣợc thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.
[21] Hoạt động tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng với một bên là các chủ thể khác trong nền kinh tế, trong đó ngân hàng đóng vai trò vừa là ngƣời đi vay vừa là ngƣời cho vay, hay nói cách khác, ngân hàng là một trung gian tài chính luân chuyển vốn từ nơi tạm thừa vốn sang nơi thiếu. Giá (lãi suất) của khoản vay do ngân hàng ấn định cho khách hàng vay là mức lợi tức mà khách hàng phải trả trong suốt khoản thời gian tồn tại của khoản vay. Chủ thể tham gia trong quan hệ hoạt động tín dụng là ngân hàng, Nhà nƣớc, doanh nghiệp và hộ dân cƣ. Đối tƣợng đƣợc sử dụng trong quan hệ tín dụng là tiền, do đó, nó không chịu sự giới hạn theo hàng hoá, vận động đa phƣơng đa chiều.
Đây chính là ƣu điểm nổi bật và là đặc điểm khác biệt giữa 9 hoạt động tín dụng ngân hàng với các loại hình tín dụng khác. Phân loại Hoạt động tín dụng ngân hàng cần đƣợc phân loại một cách khoa học, nó là tiền đề để tổ chức quản lý hoạt động này và phòng ngừng những RRTD có thể xảy ra: (1) Căn cứ vào thời hạn cho vay, gồm có: Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn không quá 12 tháng (dƣới 1 năm). Loại tín dụng này đƣợc sử dụng để bổ sung vốn lƣu động và các nhu cầu thiếu hụt tạm thời về vốn của các chủ thể vay vốn. Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trừ trên 1 năm đến 5 năm, khoản tín dụng trung hạn thƣờng đƣợc sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn thực hiện các dự án tài sản cố định, cải tiến kỹ thuật, mở rộng sản xuất, đầu tƣ theo chiều sâu.
Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, khoản tín dụng dài hạn thƣờng đƣợc sử dụng để đầu tƣ xây dựng các công trình mới. (2) Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay, gồm có: Tín dụng bất động sản, tín dụng công thƣơng nghiệp, tín dụng nông nghiệp, tín dụng cá nhân, tín dụng cho các tổ chức tài chính, cho thuê tài chính, tín dụng khác. (3) Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng, gồm có: Tín dụng có tài sản bảo đảm: Là loại tín dụng theo đó nghĩa vụ của chủ thể vay vốn đƣợc đảm bảo bằng tài sản của chủ thể vay vốn, tài sản hình thành từ vốn vay hoặc đảm bảo bằng uy tín và năng lực tài chính của bên thứ ba. Tín dụng không có bảo đảm bằng tài sản: Là loại tín dụng mà theo đó ngân hàng chủ động lựa chọn khách hàng để cho vay trên cơ sở khách hàng có tín nhiệm với ngân hàng, có năng lực tài chính và có phƣơng án, dự án khả thi có khả năng hoàn trả nợ vay.
10 (4) Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển vốn, gồm có: Tín dụng vốn lƣu động: Đƣợc cung cấp để bổ sung lƣu động cho các thành phần kinh tế, có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Tín dụng có vốn cố định: Cho vay để hình thành tài sản cố định cho các thành phần kinh tế, có quan hệ tín dụng với ngân hàng. Rủi ro tín dụng tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm Theo tác giả A.
Lange thì RRTD đƣợc định nghĩa là: “các khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các nguồn thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian” [37]. Theo quan niệm của của Ủy ban Basel (2010): “RRTD là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận” [31]. Căn cứ vào khoản 01 Điều 03 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng (Ban hành theo thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nƣớc) thì “RRTD trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết” [12]. Từ những quan điểm nêu trên, chúng ta có thể hiểu RRTD là khả năng dẫn đến một khách hàng vay hoặc một đối tác không thể thực hiện nghĩa vụ thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng làm cho ngân hàng không thu đầy đủ hoặc không thu đƣợc cả gốc lẫn lãi khoản vay.
RRTD sẽ dẫn đến các tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trƣờng vốn của ngân hàng 11 thƣơng mại. Phân loại rủi ro tín dụng Tùy thuộc vào mục đích, yêu cầu nghiên cứu mà phân loại RRTD theo các cách khác nhau. (1) Phân loại theo tính khách quan, chủ quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan nhƣ thiên tai, địch họa, ngƣời vay chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến khác làm thất thoát vốn vay trong khi ngƣời vay đã thực hiện nghiêm túc các chế độ, chính sách.
Rủi ro chủ quan do nguyên nhân chủ quan của ngƣời vay và ngƣời cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì những lý do chủ quan khác. (2) Phân loại RRTD theo nguyên nhân. Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ: Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến đánh giá và phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn những phƣơng án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay; Rủi ro đảm bảo phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm nhƣ các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo; Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấn đề.
Rủi ro danh mục: Là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, đƣợc phân chia thành rủi ro nội tại và rủi ro tập trung: Rủi ro nội tại xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng bên trong của mỗi 12 chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay. Rủi ro tập trung là trƣờng hợp ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều khách hàng hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định. Ngoài ra, còn có nhiều hình thức phân loại khác nhƣ phân loại căn cứ theo tính khách quan, chủ quan của nguyên nhân gây ra rủi ro, theo cơ cấu các loại hình rủi ro, theo nguồn gốc hình thành, đối tƣợng sử dụng vốn vay.
Tiêu chí đo lường rủi ro tín dụng Quản trị RRTD của ngân hàng thƣơng mại thông qua các chỉ tiêu về kết quả nhƣ: Tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ khả năng bù đắp RRTD, duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu hợp lý, trong giới hạn cho phép nghĩa là RRTD đƣợc kiểm soát, hoạt động quản trị RRTD đạt hiệu quả cao. Ngoài ra, các tiêu chí về nguyên nhân nhƣ: Trình độ nguồn nhân lực, trình độ công nghệ (cả về máy móc thiết bị, cơ sở dữ liệu và phƣơng thức quản trị điều hành), chính sách và chiến lƣợc hoạt động, cũng cần phải đƣợc xem xét khi đánh giá hiệu quả quản trị RRTD. Một ngân hàng có trình độ nguồn nhân lực cao, chuyên nghiệp và năng động; trình độ công nghệ tiên tiến, hiện đại và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế, sẽ giúp ngân hàng nâng cao chất lƣợng tín dụng đồng nghĩa với việc quản lý tốt việc quản trị RRTD. + Tỷ lệ nợ quá hạn: Dƣ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dƣ nợ cho vay Đây là chỉ tiêu đánh giá rủi ro tín dụng cũng nhƣ chất lƣợng tín dụng tại ngân hàng.
Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện chất lƣợng tín dụng càng kém và ngƣợc lại. Theo quy định của NHNN hiện nay chỉ tiêu này không đƣợc vƣợt quá 3%. Cho thấy khả năng thu thu hồi vốn của ngân hàng đối với các khoảng 13 vay. Tỷ lệ trên chỉ đề cập đến những khoản nợ đã quá hạn, mà không đề cập đến những món vay có một kỳ hạn bị quá hạn (lúc này, toàn bộ dƣ nợ từ kỳ hạn đó trở về sau sẽ bị chuyển nợ quá hạn).
Nhƣ vậy, chính xác hơn, ta có: Tổng dƣ nợ quá hạn Tỷ lệ dƣ nợ quá hạn = x 100% Tổng dƣ nợ cho vay + Tỷ lệ nợ xấu: Dƣ nợ xấu Tỷ lệ nợ xấu = x 100% Tổng dƣ nợ cho vay Theo khuyến cáo của NHNN, tỷ lệ nợ quá hạn <= 5%, tỷ lệ nợ xấu <= 3%.