chương I, tác giả đã giới thiệu tông quát về toàn bộ bài nghiên cứu. CHUONG 2: CO SO LY LUAN VE NO XAU VA CAC NHAN TO TAC DONG DEN NO XAU 2. Tổng quan về nợ xau 2. Khai niém vé ng xau Nợ xấu là thuật ngữ phô biến trên thé gidi nhu “Non-performing loans” (NPL), “bad debt”, “doubtful debts”,.
duoc nhiều nhà nghiên cứu sử dụng để chỉ các khoản vay dưới chuẩn, có thê quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng thu hồi von chang han nhu Berger N. (2002) gọi đó là các khoản vay có van dé (problem loans), Fofack (2005) thi goi la ng kho doi (doubtful debts), con Ahlem Selma Messai va Fathi Jouni (2013) hay Makri, Tsagkanos và Bellas (2014) sử dụng thuật ngữ Non-performing loans khi nghiên cứu vấn đề này. Hiện tại không có một quy tắc hay chuân mực thống nhất khi thảo luận về vấn đề nợ xấu. Có thể đề cập đến một số khái niệm về nợ xấu như sau: Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF): “ Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc da qua han 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cầu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghĩ ngờ việc trả nợ sẽ không được thực hiện đầy đủ (người vay phá sản).
Theo Uy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS), họ không đưa ra một định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Nhưng trong các hướng dẫn về hoạt động quản lý nợ xấu tại một số quốc gia, họ cho rằng một khoản nợ được coi là không có khả năng hoàn tra khi xảy ra một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau: Một là, ngân hàng xác định người đi vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện bất cứ động thái gì để thu hồi nợ như xử lý tài sản bảo đảm. Hai là, Người vay đã quả hạn trả nợ (trên 90 ngày). Theo Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB), họ cho rằng nợ xấu bao gồm: Những khoản nợ không thể thu hồi được: Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đề đòi bôi thường tử nợ; người mắc nợ bỏ trôn hoặc mắt tích không còn tài sản dé thanh toán nợ; những khoản nợ mà khách nợ đã cham dirt hoat động kinh doanh, thanh lý tài sản , hoặc kinh doanh thua lỗ và tài sản không đủ để trả nợ.
Nợ có thê thu nhưng không thanh toán đây đủ: Đây là những khoản nợ không có tài sản thế chấp hoặc tài sản thế chấp không đủ trả nợ; những khoản nợ khách hàng vay đồng ý trả nợ nhưng giá trị tài sản không đủ để trang trải cho toàn bộ khoản nợ hoặc thế chấp ở ngân hàng không được chấp nhận về mặt pháp lý dẫn đến người mac no không có khả năng trả nợ đầy đủ; những khoản nợ mà tòa án tuyên bố khách hàng vay phá sản nhưng phần bồi hoản ít hơn dư nợ. Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng lại thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired loans) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (Non-performing loans). IAS 39 chi chú trọng đến khả năng hoàn trả của khoản vay bắt luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn. Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu xuất hiện khi quy định về việc phân loại nợ, trích lập và dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tô chức tín dụng được ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của thông đốc NHNN Việt Nam.
Theo quan điểm của NHNN Việt Nam, nợ xấu hay nợ khó đòi là những khoản nợ được phân loại vào nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghỉ nghờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mắt vốn). Trong đó, về định lượng, nợ nhóm 3 là các khoản nợ quá hạn tử 90 ngày đến 180 ngày; nợ nhóm 4 là các khoan no qua han tr 181 ngay dén 360 ngay vano nhém 5 là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày. Như vậy, theo phương pháp định lượng, cách xác định nợ xấu từ 90 ngày trở lên khá tương đồng giữa khái niệm của các tô chức trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Tuy nhiên, để đánh giá một cách đánh giá và toàn điện hơn thì cũng cần xem xét đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Phân loại nợ xấu Và phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của t6 chức tín dụng (Ban hành theo Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN thay thế cho Quyết định 493/2005QĐ-NHNN). Tại điều 6 tô chức tín dụng thực hiện phân loại nợ như sau: Bảng 2.1: Phân loại nợ theo thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 31/01/2013 của NHNN Nhóm nợ Phương pháp định lượng Phương pháp định tính 1. Nợ đủ Có khả năng thu hồi đầy Nợ trong hạn, hoặc quá hạn dưới 10 ngày. tiêu chuân đủ cả gốc và lãi đúng hạn.
Có khả năng thu hồi đầy 2.No can | Quá hạn 10-90 ngày; nợ điều chỉnh hạn trả nợ | đủ cả gốc và lãi, nhưng chú ý lan dau. có dâu hiệu suy giảm khả năng trả nợ. Nợ dưởi Quá hạn 91-180 ngày; no gia han lan dau; Không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến tiêu chuân miền hoặc giảm lãi. hạn có khả năng tôn that.
Quá hạn từ 180-360 ngày; nợ cơ cầu lại thời 4.Nợ nghỉ | gian trả nợ lần đầu, nhưng lại tiếp tục quá hạn | ,. pO nein) eran s te nifung fa ep tue qua 03 C6 kha nang ton that cao. van dưới 90 ngày; nợ cơ câu lại thời gian trả nợ lan thir hai. No qua hạn trên 360 ngày; nợ có cơ cầu lại 5.Nợ có | thời gian trả nợ lần đầu, nhưng lại ti tục quá ˆ ` ¬ cố x e 8 pwd Không còn khả năng thu khả năng | hạn từ 20 ngày trở lên; nợ có cơ cấu lại thời |,3.
„ kk hoi, mat von. mat von gian trả nợ lần hai nhưng lại quá hạn; nợ cơ cau lại thời gian trả nợ lần thứ ba trở lên. Nguôn: Nguyễn Thành Nam (2013) 2. Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu Nguyên nhân dẫn đến nợ xấu có thể phân tích dưới nhiều phương diện, chủ quan và khách quan.
- Nguyên nhân khách quan Môi trường tự nhiên: Nghiên cứu của Goldstein M. (1996) cho rằng khi thời tiết, khí hậu có những biến động như thiên tai, bão lũ, hạn hán, dịch bệnh. sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và đây cũng chính là nguyên nhân khách quan nằm ở ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng. Kết quá là khả năng trả nợ của doanh nghiệp cho ngân hàng sẽ giảm, nhất là các khoản vay nông nghiệp, dẫn đến nợ xấu phát sinh.
Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội: Theo Bloem M. (2001), ngân hàng đóng vai trò là một trung gian tài chính của nên kinh tế, vì vậy rủi ro hoạt động của các NHTM chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi trình độ phát triển của nền kinh tế, chính trị xã hội. Khi những yếu tố này tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ dẫn đến sự suy giảm trong khả năng trả nợ đối với ngân hàng. Môi trường pháp lý: Một quốc gia có hệ thông pháp lý cho hoạt động ngân hàng chưa thực sự chặt chẽ và an toàn sẽ là kẻ hở để một số phân tử lợi dụng gây tốn thất cho hệ thống ngân hàng.
Sự không đồng nhất và chồng chéo của các pháp luật sẽ khiến cơ quan lúng túng trong việc cập nhật và áp dụng khi xử lý tranh chấp vẻ tài sản đảm bảo; hệ thong quy dinh, quy tắc về kế toán kiểm toán chưa đủ sức mạnh thực hiện sẽ khiến số liệu không đủ cơ sở vững chắc, tin cậy để thâm định cho vay. Tín dụng chỉ định của chính phú: thường xảy ra ở các ngần hàng quốc doanh, thông qua việc chỉ định của các ngân hàng này sẽ không quan tâm đến giai đoạn thâm định cũng như kiểm soát trước và sau khi cấp tín dụng dẫn đến chất lượng tín dụng không được đảm bảo. Sự yếu kém trong hoạt động kinh doanh của khách hàng, doanh nghiệp: năng lực tài chính của khách hàng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc ngân hàng có nên quyết định cấp vốn hay không. Một doanh nghiệp có năng lực điều hành va quan ly kém sẽ dẫn đến hoạt động kinh doanh kém hiệu quả, từ đó ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Đạo đức khách hàng: rủi ro tín dụng xảy ra trong một số trường hợp khách hàng cô ý cũng cấp sai số liệu tài chính, làm ảnh hưởng đến việc thâm định và cấp tín dụng dẫn đến khó khăn trong việc thu hồi nợ của ngân hàng hay khách hàng cố tình sử dụng vốn sai mục đích, thậm chí còn có khách hàng cố tình lợi dụng chính sách, kẻ hở của pháp luật để tính toán, lừa đảo, sử dụng vốn sai mục đích ban đầu, vay không có ý định trả nợ. - Nguyên nhân chủ quan Sự quản lý yếu kém của ngân hàng: theo Brownbridge (1998) việc quản trị rủi ro yêu kém khiến ngân hàng đánh giá, ngăn ngừa rủi ro thị trường yếu, từ đó làm tăng tỷ lệ nợ xấu cho ngân hàng. Các ngân hàng chưa chú trọng đến quản trị danh mục cho vay, dẫn đến tỷ trọng các khoản vay có rủi ro cao thường lớn, thêm vào đó là việc chạy theo lợi nhuận khiến một số ngân hàng lại lơ là trong công tác phòng ngừa, dự báo khi tập trung vốn vào những danh mục cho vay có rủi ro cao như cho vay để đầu tư vào chứng khoán, bất động sản. Vì vậy khi có những biến động trên thị trường chứng khoán hay thị trường bất động sản cũng là lúc nợ xấu trong những lĩnh vực này tăng lên.
Chính sách tín dụng: một chính sách tín dụng không đầy đủ, đồng bệ và thống nhất khiến việc cấp tín dụng không trao đúng đối tượng, tiềm ấn nguy cơ rủi ro cho các NHTM. Bên cạnh đó, để thu hút khách hàng và chiếm lĩnh thị phần, nhiều NHTM đã nới lỏng điều kiện tín dụng như bỏ qua một số bước trong quy trình tín dụng, tự ý hạ thấp tiêu chuẩn đánh giá khách hàng, công tác kiêm tra, thâm định cấp tín dụng không hoạt động hiệu quả. Điều này là một nguyên nhân làm gia tăng nợ xấu của các NHTM.