đặt vấn đề và nêu lý do chọn đề tài, trình bày các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu và ý nghĩa của nghiên cứu này. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan Chƣơng 2 sẽ tổng hợp các lý thuyết liên quan đến hoạt động huy động vốn, tiền gửi tiết kiệm và các lý thuyết về hành vi sử dụng dịch vụ của khách hàng, đồng thời tác giả tiến hành khảo lƣợc các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc để xây dựng các giả thuyết nghiên cứu, mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Chƣơng 3: Mô hình và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3 sẽ trình bày mô hình nghiên cứu cùng với các giả thuyết nghiên cứu. đồng thời thiết kế quy trình nghiên cứu, mô tả cách thiết lập các thang đo cho các quan sát đại diện cho các biến, các chỉ số đƣợc sử dụng để đánh giá kết quả nghiên cứu và mô hình hồi quy.
Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 4 sẽ trình bày kết quả tính toán từ số liệu đƣợc thu thập điều tra khảo sát thông qua phần mềm SPSS 22.0 và đánh giá kết quả phân tích bằng các chỉ tiêu thống kê mô 6 tả mẫu nghiên cứu, hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA, mô hình hồi quy và sự phù hợp của mô hình hồi quy. Chƣơng 5: Kết luận và gợi ý chính sách Chƣơng 5 sẽ căn cứ vào các kết quả của nghiên cứu trƣớc đây và kết quả nghiên cứu thực nghiệm của mình để nêu ra kết luận của các nhân tố tác động, đồng thời dựa vào kết quả đó để tiến hành nêu ra các hàm ý chính sách cho mỗi yếu tố tác động tƣơng ứng nhằm thu hút khách hàng gửi tiền tiết kiệm tại Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam chi nhánh TP. Hồ Chí Minh. 7 TÓM TẮT CHƢƠNG 1 Tại chƣơng này đã khái quát đƣợc vấn đề mà tác giả quan tâm và tính cấp thiết của nó để tác giả quyết định chọn làm vấn đề để nghiên cứu.
Đồng thời tại chƣơng này cũng đã xác định đƣợc các mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phƣơng pháp nghiên cứu tổng quát và ý nghĩa của đề tài này với thực tiễn. Trong chƣơng này đã xác định những vấn đề cụ thể cần đƣợc giải quyết và định hƣớng cho các chƣơng sau. 8 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 2. TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN VÀ TIỀN GỬI TIẾT KIỆM CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2.
Sơ lƣợc về hoạt động huy động vốn của ngân hàng thƣơng mại Theo Hà (2013), ngân hàng thƣơng mại (NHTM) là một trong những định chế tài chính mà đặc trƣng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán. Ngoài ra, NHTM còn cung cấp nhiều dịch vụ khác nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ của xã hội. Thành công trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng hoàn toàn phụ thuộc vào năng lực, khả năng cung cấp các dịch vụ cho công chúng theo giá cạnh tranh trên thị trƣờng. Hoạt động huy động vốn: là hoạt động mang tính chất tiền đề nhằm tạo lập nguồn vốn hoạt động của ngân hàng.
Bởi vậy, để đảm bảo nguồn vốn trong hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng thƣơng mại có thể thực hiện các hoạt động huy động vốn từ: Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi giao dịch: trong đó tiền gửi tiết kiệm của dân cƣ chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng thƣơng mại. Ngoài ra còn có các khoản tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, các khoản tiền gửi này có thể là các khoản phải trả đã xác định thời hạn chi hoặc các khoản tích lũy của doanh nghiệp. Bên cạnh các khoản tiền gửi có kỳ hạn, ngân hàng thƣơng mại còn huy động các khoản tiền gửi không kỳ hạn, đây là những khoản tiền mà ngƣời gửi có thể rút bất kỳ lúc nào. Các khoản tiền gửi không kỳ hạn này có thể bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi để bảo đảm an toàn tài sản của khách hàng.
Điểm nổi bật của loại tiền gửi này đó là có chi phí huy động thấp nhƣng biến động mạnh, tính chất vận động phức tạp và có nhiều rủi ro. Phát hành chứng khoán: thông qua thị trƣờng tài chính, hiện nay các ngân hàng thƣơng mại có thể huy động vốn bằng cách phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái 9 phiếu, kỳ phiếu, và các giấy tờ có giá khác với nhiều loại kỳ hạn, lãi suất khác nhau, có ghi danh hoặc không ghi danh nhằm đa dạng hóa các hình thức huy động vốn và đáp ứng nhu cầu nắm giữ các tài sản khác nhau của khách hàng, đồng thời thông qua các hoạt động này ngân hàng có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình trên thị trƣờng. Vay từ ngân hàng thƣơng mại khác: trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình nếu các ngân hàng thƣơng mại nhận thấy nhu cầu vay vốn của khách hàng gia tăng mạnh hoặc ngân quỹ bị thiếu hụt do có nhiều dòng tiền rút ra, thì các ngân hàng thƣơng mại có thể vay nợ tại các ngân hàng khác nhƣ Ngân hàng Nhà nƣớc thông qua hình thức chiết khấu, tái chiết khấu các giấy tờ có giá, các hợp đồng tín dụng đã cấp cho khách hàng; hoặc vay của các tổ chức tài chính khác trên thị trƣờng tiền tệ nhằm bổ sung cho thiếu hụt tạm thời về vốn. Tổng quan về tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM Khái niệm về tiền gửi tiết kiệm: theo Hà (2013) thì tiền gửi tiết kiệm (TGTK) trong tiếng anh gọi là “Savings deposit” nhìn chung cũng là một dạng tiền gửi ngân hàng.
Ngƣời dùng có rất nhiều lý do và nhu cầu khác nhau khi gửi tiền vào ngân hàng. Trong đó, nếu xét về mục đích thì tiền gửi ngân hàng chia ra làm hai dạng đó là tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Đúng nhƣ mục đích của ngƣời tiêu dùng, tiền gửi tiết kiệm có mục đích chính đó là tiết kiệm. Tức là đây là một khoản tiền chắc chắn dƣ dùng để dành hay đầu tƣ, chứ không thích hợp dành cho việc chi tiêu, thanh toán cá nhân.
Ngƣời dùng luôn mong muốn có đƣợc một khoản lợi nhuận thu về từ việc gửi tiết kiệm này. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có thời gian cụ thể 10 Hƣơng và Ngọc (2013) thông thƣờng khi tiến hành gửi tiết kiệm, ngƣời dùng sẽ đƣợc chọn kỳ hạn gửi (3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng,…). Ngày cuối cùng cũng mỗi kỳ hạn đƣợc gọi là ngày đáo hạn, ngƣời dùng sẽ nhận lại đƣợc một khoản tiền sau khi đã gửi cho ngân hàng vào ngày này. Tất nhiên, không phải lúc nào tiền gửi tiết kiệm cũng có kỳ hạn, bạn vẫn có thể chọn hình thức không kỳ hạn và có thể tất toán bất cứ lúc nào.
Tiền gửi tiết kiệm sinh lãi suất Lãi suất chính là yếu tố then chốt để thu hút các khách hàng trong vấn đề gửi tiết kiệm. Hiện nay, nhìn chung các ngân hàng đều duy trì mức lãi suất trung bình 7% cho kì hạn 12 tháng. Cụ thể, tính năng gửi tiết kiệm dài hạn Timo online cho lãi suất 7. Nếu bạn gửi tiết kiệm một thời gian đủ dài thì cũng sẽ nhận lại đƣợc một khoản kha khá.
Lãi suất tiết kiệm bao gồm hai loại đó là lãi suất có kỳ hạn (áp dụng với hình thức tiết kiệm có kỳ hạn) và lãi suất không kỳ hạn (áp dụng với tiết kiệm không kỳ hạn). Lãi suất không kỳ hạn thông thƣờng sẽ thấp hơn lãi suất có kỳ hạn. Nhìn chung, lợi nhuận bạn thu lại từ tiết kiệm không cao nhƣng đảm bảo ổn định và ít rủi ro so với một số ngành đầu tƣ khác nhƣ là chứng khoán, bất động sản. Tiền gửi tiết kiệm đƣợc quản lý thông qua sổ tiết kiệm Sổ tiết kiệm là một trong những vật dụng thƣờng thấy của ngân hàng nhằm quản lý tài khoản tiết kiệm của bạn.
Do đó ngƣời dùng phải có trách nhiệm bảo quản số tiết kiệm này cho thật tốt. Bạn cũng nên thƣờng xuyên kiểm tra về các thông tin cá nhân, số tiền tiết kiệm ghi trên sổ để phòng chắc chắn. Tiền gửi tiết kiệm ổn định, an toàn Nhìn chung, gửi tiết kiệm là một hình thức đầu tƣ khá an tâm. Gửi tiết kiệm không quá nhiều khắt khe, quy định nhƣ là đóng bảo hiểm, nhƣng cũng đủ đem lại cho bạn sự yên 11 tâm khi có khoản tiền gửi từ ngân hàng.
Đây là cách gửi tiền nhanh chóng, đơn giản cho những ai không muốn để tiền “chết” một chỗ. Các hình thức gửi tiền tiết kiệm phổ biến Gửi tiền tiết kiệm có kỳ hạn: hình thức mà ngƣời gửi chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng. Lãi suất tiết kiệm sẽ đƣợc tính theo các kỳ hạn mà ngân hàng đặt ra, ví dụ nhƣ kỳ hạn dài hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 6 tháng và dài hạn nhƣ 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng, 36 tháng,…hình thức này ngƣời gửi đƣợc hƣởng lãi cao. Với dạng tiền gửi tiết kiệm này, ngƣời gửi chỉ đƣợc gửi tiền vào một lần và rút ra một lần cả vốn lẫn lãi khi đáo hạn.
Khi chƣa đến hạn, ngƣời gửi không đƣợc phép thêm vào số tiền đã gửi. Mỗi lần gửi sẽ đƣợc xem là một khoản tiền gửi riêng biệt. Mức tối thiểu của mỗi lần gửi sẽ do từng ngân hàng quy định. Gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn: đối với hình thức gửi tiền tiết kiệm không kỳ hạn, ngƣời gửi có thể linh hoạt gửi vào và rút ra theo nhu cầu sử dụng mà không cần thông báo trƣớc cho ngân hàng.
Tuy nhiên, lãi suất tiết kiệm của hình thức này rất thấp. Gửi tiền tiết kiệm dạng này sẽ giúp đảm bảo an toàn cho khoản tiền nhàn rỗi, dự phòng cho các nhu cầu chi tiêu trong thời gian ngắn và đồng thời đƣợc hƣởng một chút lãi suất. Gửi tiền tiết kiệm có mục đích: hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm để xây dựng nhà ở. Ngoài việc đƣợc hƣởng lãi suất tiết kiệm thì ngƣời gửi tiền còn đƣợc ngân hàng cho vay thêm để bổ sung thêm vốn cho việc xây dựng nhà ở.
Mức cho vay tối đa sẽ bằng số dƣ tiền gửi tiết kiệm. LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG DỊCH VỤ CỦA KHÁCH HÀNG 2.