CHƯƠNG 1 Trong chương này, tác giả đã khái quát lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp “Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển – Chi nhánh Thủ Đức”. Chương này cũng đề cập rõ đối tượng nghiên cứu và từ đó thực hiện mục tiêu xác định mức độ và chiều hướng ảnh hưởng nhằm đề ra những hàm ý chính sách thích hợp. Những định hướng nêu trên là cơ sở để tác giả trình bày luận văn này ở những chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về tiền gửi tiết kiệm cá nhân Theo Phan Thị Thu Hà (2013) tiền gửi tiết kiệm đã định nghĩa các nội dung về tiền tiết kiệm, giao dịch tiền tiết kiệm và người gửi tiền tiết kiệm như sau.
Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền được người gửi tiền gửi tại tổ chức tín dụng theo nguyên tắc được hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi theo thỏa thuận với tổ chức tín dụng. Giao dịch tiền gửi tiết kiệm bao gồm giao dịch nhận, gửi tiền tiết kiệm; chi trả, rút tiền gửi tiết kiệm; sử dụng tiền gửi tiết kiệm làm tài sản bảo đảm và chuyển giao quyền sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Người gửi tiền tiết kiệm là người thực hiện các giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Người gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, hoặc là đồng chủ sở hữu tiền tiết kiệm nếu tiền gửi tiết kiệm chung là tiền gửi tiết kiệm của từ hai người gửi tiền trở lên, là người giám hộ nếu chủ sỡ hữu là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật.
Tiền gửi tiết kiệm có 2 loại hình đó là tiền gửi tiết kiệm cho khách hàng doanh nghiệp và tiền gửi tiết kiệm dành cho khách hàng cá nhân. KHCN gửi tiền tiết kiệm là các cá nhân, hộ gia đình thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm cá nhân tại ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng. Tiền gửi tiết kiệm của KHCN là số tiền của KHCN được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm và được xác định trên sổ hoặc thẻ tiết kiệm do ngân hàng mà KHCN chọn gửi tiền tiết kiệm cung cấp, được nhận lãi suất theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và Ngân hàng Nhà Nước.2 Phân loại tiền gửi tiền gửi tiết kiệm dành cho KHCN Tiền gửi tiết kiệm dành cho KHCN có thể được chia thành 2 loại dựa trên cơ sở kỳ hạn gửi tiền bao gồm: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm mà KHCN có thể thực hiện gửi vào và rút ra bất cứ lúc nào mà không cần thông báo trước cho ngân hàng hoặc tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Khách hàng chọn gửi loại tiền gửi tiết kiệm này thường có khoản tiền nhàn rỗi nhưng không có kế hoạch sử dụng trong tương lai nên quyết định gửi Ngân hàng để quản lý tài sản và bảo quản an toàn.
Lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn biến động thường xuyên, không ổn định và thấp hơn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Do đó, nhóm khách hàng lựa chọn loại tiền gửi tiết kiệm này ưu tiên sự an toàn và tiện lợi của nó hơn là khả năng sinh lời. Tiền gửi tiết kiệm có kỳhạn Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi tiết kiệm mà KHCN chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thoả thuận với tổ chức hoặc ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm. Khách hàng chọn loại tiền gửi tiết kiệm này gửi tiền một lần và rút vốn gửi ban đầu, tiền lãi sẽ được tổ chức hoặc ngân hàng nhận tiền gửi tiết kiệm trả vào thời điểm đáo hạn.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn có lãi suất cao, được đảm bảo ổn định xuyên suốt kỳ hạn. Tuy nhiên, việc thoả thuận mức lãi suất sẽ khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích và nhu cầu sử dụng của khách hàng. Khi khách hàng rút tiền trước hạn, tổ chức hoặc ngân hàng sẽ trả lãi cho số tiền này với mức lãi suất không kỳ hạn. Khách hàng lựa chọn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn nhằm đầu tư sinh lời từ mức lãi suất hấp dẫn và các lợi ích kèm theo do tổ chức hoặc ngân hàng cung cấp.3 Vai trò của tiền gửi tiết kiệm dành cho KHCN Trong nền kinh tế thị trường, để một ngân hàng có thể phát triển bền vững và ổn định thì chính ngân hàng cần có số lượng vốn huy động dồi dào.
Hoạt động huy động tiền gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân có vai trò to lớn đối với bản thân ngân hàng, đối với khách hàng và đối với nền kinh tế (Nguyễn Minh Kiều, 2009) Đối với ngân hàng thương mại Nguồn vốn luôn có vai trò quan trọng, là nền tảng cho sự phát triển và bền vững của các NHTM. Tiền gửi tiết kiệm luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu nguồn vốn của các NHTM vì mang tính ổn định cao. Phần tiền gửi được huy động này sẽ được các NHTM sử dụng cho các hoạt động dự trữ bắt buộc, cho vay. Qua đó, có thể nói tiền gửi tiết kiệm là cơ sở cho NHTM kinh doanh và tạo ra lợi nhuận, từ đó giúp ngân hàng phát triển, mở rộng các sản phẩm và nâng cao chất lượng dịch vụ, đảm bảo khả năng thanh khoản.
Thông qua hoạt động thu hút tiền gửi tiết kiệm, các ngân hàng cũng có thể sử dụng làm thước đo đánh giá mức độ tín nhiệm, sức mạnh ảnh hưởng của mình đối với khách hàng.Vậy, đây chính là động lực cho các NHTM không ngừng nỗ lực hoàn thiện bản thân, xây dựng thương hiệu uy tín, nâng cao trải nghiệm, tăng cường năng lực cạnh tranh nhằm thu hút ngày một nhiều khách hàng hơn. Đối với nền kinh tế Đối với nền kinh tế hội nhập, các NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển. Đây là nơi huy động nguồn tiền nhàn rỗi từ nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp và điều tiết nó sang các cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng vốn hoặc đang thiếu hụt nguồn vốn để phân phối cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất, đảm bảo cho các hoạt động này được xuyên suốt và liên tục. Sự tăng trưởng mạnh mẽ của hoạt động huy động tiền gửi là nguồn lực quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và mở rộng của các hoạt động kinh tế, sản xuất của đất nước, giúp nền kinh tế bền vững và đảm bảo sự tăng trưởng ổn định.
10 Đối với khách hàng Tiền gửi tiết kiệm mang đến cho KHCN một kênh đầu tư, sinh lời, tiết kiệm hiệu quả và an toàn, giúp họ thu được lợi nhuận từ các khoản tiền nhàn rỗi của mình thông qua các hình thức trả lãi theo kỳ hạn, tạo cơ hội cho khách hàng có thể gia tăng khả năng tiêu dùng trong tương lai. Bên cạnh đó, tiền gửi tiết kiệm còn là một nơi an toàn để khách hàng cất trữ và quản lý cũng như tích luỹ tài sản của mình. Sử dụng các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm của NHTM còn giúp khách hàng có cơ hội được tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ khác được cung cấp bởi NHTM.2 LÝ THUYẾT HÀNH VI NGƯỜI TIÊU DÙNG 2.1 Khái niệm về hành vi người tiêu dùng Theo Kotler (2013): “Hành vi người tiêu dùng là những hành động của con người trong việc mua sắm và sử dụng sản phẩm, dịch vụ bao gồm các quá trình tâm lý và xã hội trước, trong và sau khi mua. Michael Solomon và cộng sự (2006) thì cho rằng: “Hành vi của người tiêu dùng không chỉ đơn thuần là mua sắm mà còn bao hàm nghiên cứu về việc sở hữu (hoặc không sở hữu) các sản phẩm, dịch vụ ảnh hưởng đến cuộc sống của chúng ta như thế nào, và cách mà của cải vật chất ảnh hưởng đến cách ta cảm nhận về bản thân và về người khác”.
Paul Peter và Jerry C. Olson (2010) khẳng định: “Hành vi của người tiêu dùng liên quan đến những suy nghĩ và cảm xúc mà mọi người trải qua và những hành động mà họ thực hiện trong quá trình tiêu dùng. Nó cũng bao gồm tất cả những thứ trong môi trường ảnh hưởng đến những suy nghĩ, cảm xúc và hành động này. Chúng bao gồm nhận xét từ những người tiêu dùng khác, quảng cáo, thông tin giá cả, bao bì, hình thức sản phẩm.
Điều quan trọng là phải nhận ra từ định nghĩa này rằng hành vi của người tiêu dùng là hành động, liên quan đến các tương tác và liên quan đến trao đổi.” 11 Có thể nói, hành vi người tiêu dùng là những suy nghĩ, cảm nhận, thái độ và những hành động của con người trong quá trình lựa chọn, sử dụng hoặc bỏ qua một loại sản phẩm dịch vụ nào đó. Bên cạnh những yếu tố tâm lý bên trong, hành vi tiêu dùng cũng có thể chịu tác động đến từ những yếu tố bên ngoài. Các suy nghĩ, cảm nhận của những người xung quanh, hoạt động chiêu thị, thông tin về sản phẩm, dịch vụ cũng như cảm quan bên ngoài có thể ảnh hưởng, làm thay đổi hoặc xác định rõ ràng suy nghĩ, cảm nhận và hành vi của người tiêu dùng. Như vậy trong quá khứ đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra khái niệm về hành vi người tiêu dùng.
Dựa trên những khái niệm này, có thể hiểu rằng hành vi người tiêu dùng là hành động, thái độ, cảm xúc của người tiêu dùng trước, trong và cả sau quá trình mua sắm. Đây không đơn thuần chỉ là mua sắm và tiêu dùng, mà còn bao gồm cả những tác động từ môi trường xung quanh đến quá trình mua sắm và tiêu dùng sản phẩm đó.2 Tiến trình đưa ra quyết định của khách hàng Theo Kotler (2013), quá trình đưa ra quyết định của người tiêu dùng bao gồm 5 bước như trong sơ đồ: (1) Nhận dạng nhu cầu; (2) Tìm kiếm thông tin; (3) Đánh giá các phương án thay thế; (4) Quyết định mua và (5) Hành vi sau khi mua Hình 2.1 Quá trình đưa ra quyết định của người mua hàng Đánh Tìm Nhận giá các Quyết Hành vi kiếm dạng phương định sau khi thông nhu cầu án thay mua mua tin thế Nguồn: Philip Kotler (2013) 12 Giai đoạn 1: Nhận dạng nhu cầu Nhu cầu luôn xuất hiện trong cuộc sống thường ngày, nhận dạng được nhu cầu giúp người tiêu dùng xác định được sản phẩm, dịch vụ mình muốn mua.