Tổng quan luận án

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, các doanh nghiệp Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội mở rộng thị trường nhưng đồng thời phải đối mặt với áp lực cạnh tranh gay gắt. Ngành dệt may là ngành kinh tế truyền thống lâu đời và là một trong những ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam, liên tục giữ vị trí thứ hai về kim ngạch xuất khẩu trong cả nước và đóng góp khoảng 15% vào GDP. Theo số liệu từ Hiệp hội Dệt may Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2021 đạt 39 tỷ USD, tăng 11,2% so với năm 2020 và tăng 0,3% so với năm 2019. Mặc dù đạt giá trị xuất khẩu cao và giải quyết lượng lớn việc làm, phần lớn doanh nghiệp dệt may Việt Nam vẫn tập trung xuất khẩu theo phương thức gia công (Cut – Make – Trim: CMT) ở vị trí đáy của chuỗi giá trị toàn cầu với giá trị gia tăng thấp. Trong khi đó, các đối thủ quốc tế đang chuyển dịch mạnh mẽ sang phương thức FOB cấp III và ODM. Thêm vào đó, sự gián đoạn chuỗi cung ứng dưới tác động của đại dịch Covid-19 và biến động thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp dệt may phải nâng cấp năng lực quản trị nội bộ. Kế toán quản trị (KTQT) được xác định là hệ thống công cụ hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc kiểm soát chi phí, tính giá thành, phân tích thông tin và ra quyết định.

Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu về KTQT tại Việt Nam trước đây chỉ tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất hoặc thương mại nói chung. Chưa có công trình nào đánh giá ảnh hưởng tổng hợp của các nhân tố môi trường bên ngoài và đặc điểm bên trong đến việc vận dụng KTQT, đồng thời xem xét tác động của KTQT đến thành quả hoạt động (TQHĐ) trong bối cảnh đặc thù của ngành dệt may. Hơn nữa, việc định vị trình độ phát triển KTQT của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam theo mô hình của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) vẫn còn là một khoảng trống nghiên cứu. Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Ngọc, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Trương Bá Thanh tại Đại học Đà Nẵng (năm 2023), chuyên ngành Kế toán (Mã số: 62.01), được thực hiện nhằm giải quyết khoảng trống này.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án bao gồm:

  1. Mục tiêu tổng quát: Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT và tác động của việc áp dụng KTQT đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu cụ thể 1: Đánh giá thực trạng vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
    • Mục tiêu cụ thể 2: Xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến vận dụng kế toán quản trị trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
    • Mục tiêu cụ thể 3: Đánh giá sự tác động của việc vận dụng KTQT đến thành quả hoạt động ở khía cạnh tài chính và khía cạnh phi tài chính của doanh nghiệp dệt may Việt Nam.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu được đặt ra tương ứng:

  • Câu hỏi 1: Thực trạng vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam như thế nào? Các doanh nghiệp dệt may Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn phát triển KTQT nào theo mô hình IFAC?
  • Câu hỏi 2: Nhân tố nào tác động đến việc vận dụng KTQT của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam? Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến việc vận dụng KTQT như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Việc vận dụng KTQT tác động như thế nào đến thành quả hoạt động của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trên cả khía cạnh tài chính và phi tài chính?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc vận dụng các công cụ KTQT (phân loại theo nhóm chức năng và theo 4 giai đoạn phát triển của mô hình IFAC 1998); các nhân tố tác động đến việc vận dụng KTQT; và tác động của việc vận dụng KTQT đến thành quả hoạt động của doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào mối quan hệ giữa các nhân tố ngữ cảnh, mức độ vận dụng KTQT và thành quả hoạt động (bao gồm thành quả tài chính và thành quả phi tài chính ở các khía cạnh khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển), đồng thời định vị giai đoạn phát triển KTQT theo mô hình IFAC.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát các doanh nghiệp dệt may Việt Nam thuộc cả ba miền Bắc, Trung, Nam; không bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các hộ kinh doanh cá thể.
  • Phạm vi thời gian: Nghiên cứu dữ liệu thực nghiệm được thu thập chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2018 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa các quan điểm học thuật về KTQT từ các tổ chức nghề nghiệp quốc tế và quy định pháp lý tại Việt Nam:

  • Viện Kế toán Quản trị Hoa Kỳ (IMA): Năm 1981 định nghĩa KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, chuẩn bị, diễn giải và truyền đạt thông tin tài chính phục vụ hoạch định, đánh giá và kiểm soát. Đến các định nghĩa gần đây, IMA mở rộng KTQT thành một hoạt động chuyên nghiệp tham gia trực tiếp vào việc ra quyết định, thiết lập hệ thống quản lý thành quả và thực thi chiến lược doanh nghiệp.
  • Hiệp hội Kế toán Quản trị Công chứng Anh (CIMA): Định nghĩa KTQT qua các mục đích xây dựng chính sách, lập kế hoạch dài hạn, dự toán ngắn hạn, kiểm soát tài chính và ra quyết định. Năm 2005, CIMA xác định KTQT là việc vận dụng các nguyên tắc kế toán và quản trị tài chính nhằm tạo lập, duy trì và gia tăng giá trị cho các bên liên quan.
  • Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC): Năm 1989 định nghĩa KTQT gắn với việc cung cấp thông tin quản lý nguồn lực có trách nhiệm. Đến năm 1998, IFAC mở rộng phạm vi, xem KTQT là hoạt động đan xen trong tiến trình quản trị nhằm tạo ra giá trị cho tổ chức.
  • Khung pháp lý tại Việt Nam: KTQT được ghi nhận chính thức trong Luật Kế toán 2003, cụ thể hóa tại Thông tư 53/2006/TT-BTC và tiếp tục được khẳng định trong Luật Kế toán số 88/2015/QH13 với trọng tâm là thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin nội bộ phục vụ điều hành kinh tế tài chính.

Về mô hình các giai đoạn phát triển của KTQT, luận án phân tích hai khung tiếp cận chính:

  1. Mô hình IFAC (1998): Gồm 4 giai đoạn tiến hóa:
    • Giai đoạn 1 (trước 1950): Tính giá và kiểm soát tài chính (Cost determination and Financial Control - CDFC), tập trung vào dự toán, chi phí định mức, điểm hòa vốn và các chỉ tiêu tài chính như ROE, ROI, ROA.
    • Giai đoạn 2 (1950 – 1965): Cung cấp thông tin cho hoạch định và kiểm soát quản lý (Information for management Planning and Control - IPC), hướng vào sản xuất và kiểm soát nội bộ qua kế toán trách nhiệm.
    • Giai đoạn 3 (1965 – 1985): Cắt giảm lãng phí nguồn lực trong quá trình kinh doanh (Reduction of Waste of Resources in Business Processes - RWR), xuất hiện các kỹ thuật như tính giá dựa trên hoạt động (ABC) và quản trị hoạt động (ABM).
    • Giai đoạn 4 (từ sau 1985): Tạo giá trị thông qua sử dụng hiệu quả nguồn lực (Creation of Value through Effective Resource Use - CV), gắn với đánh giá giá trị khách hàng, cải tiến liên tục và các công cụ chiến lược.
  2. Mô hình Nishimura (2003): Phân chia sự phát triển KTQT tại châu Á thành 4 giai đoạn: Giai đoạn chuyển tiếp (sơ khai), KTQT truyền thống, KTQT định lượng, và Tích hợp KTQT. Theo Nishimura, Nhật Bản ở giai đoạn tích hợp, các nền kinh tế mới công nghiệp hóa ở giai đoạn truyền thống, còn các nước ASEAN và các nền kinh tế chuyển đổi (như Việt Nam) nằm giữa giai đoạn chuyển tiếp và truyền thống.
Nhóm nghiên cứu Tác giả và năm công bố Địa bàn nghiên cứu Nội dung và công cụ khảo sát chính
Nghiên cứu quốc tế về tập hợp công cụ KTQT Ghosh và Chan (1997) Singapore Kiểm soát, kế hoạch, hỗ trợ ra quyết định, ABC
Chenhall và Langfield-Smith (1998) Úc 42 công cụ KTQT phân theo 5 nhóm chức năng
Anderson và Lanen (1999) Ấn Độ Quản trị chi phí, kiểm soát, đo lường thành quả
Joshi (2001) Ấn Độ 45 công cụ KTQT phân theo 5 nhóm chức năng
Szychta (2002) Ba Lan Kế toán chi phí, dự toán hoạt động
El-Ebaishi và cộng sự (2003) Ả Rập Saudi 15 công cụ KTQT truyền thống
Hyvonen (2005) Phần Lan 45 công cụ KTQT phân theo 5 nhóm chức năng
Wu và cộng sự (2007) Trung Quốc Tính giá, dự toán, đánh giá thành quả, kế toán trách nhiệm
Nimtrakoon (2009) Thái Lan 43 công cụ KTQT truyền thống và hiện đại
Ahmad (2012) Malaysia 46 công cụ KTQT phân theo 5 nhóm chức năng
Nghiên cứu theo mô hình giai đoạn phát triển Waweru và cộng sự (2005) Nam Phi Phân loại công cụ theo 4 giai đoạn IFAC
Abdel-Kader và Luther (2006, 2008) Anh 38 công cụ theo 4 giai đoạn IFAC và 5 nhóm chức năng
Ahmad và Leftesi (2014) Libya 24 công cụ theo 4 giai đoạn IFAC
Chu và Chiu (2021) Đài Loan 43 công cụ KTQT theo các giai đoạn IFAC
Nghiên cứu tại Việt Nam Đoàn Ngọc Phi Anh (2012) Việt Nam (Đà Nẵng) Vận dụng KTQT trong các doanh nghiệp sản xuất
Trần Ngọc Hùng (2016) Việt Nam (Miền Bắc) 8 nhân tố tác động đến vận dụng KTQT
Đỗ Thị Hương Thanh (2019) Việt Nam 30 công cụ KTQT trong các DNSX Việt Nam
Nguyễn Quốc Hưng (2021) Việt Nam Khảo sát 7 công cụ KTQT hiện đại tại 542 doanh nghiệp
Nguyễn Thị Phương Dung và cộng sự (2021) Việt Nam 40 công cụ KTQT theo mô hình IFAC tại 173 doanh nghiệp

Vị trí của luận án: Luận án kế thừa cách phân loại 5 nhóm công cụ của Chenhall và Langfield-Smith (1998) kết hợp với khung 4 giai đoạn của IFAC (1998). Đồng thời, luận án lấp đầy khoảng trống học thuật bằng cách kiểm định đồng thời các nhân tố tác động (bên trong và bên ngoài) và tác động của KTQT đến thành quả hoạt động tài chính lẫn phi tài chính (theo mô hình BSC) riêng biệt cho ngành dệt may Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng khung nghiên cứu dựa trên hai lý thuyết nền tảng:

  1. Lý thuyết ngữ cảnh (Contingency Theory): Khởi xướng và phát triển bởi Gordon và Miller (1976), Otley (1980), Chapman (1997), Chenhall (2003), Anderson và Lanen (1999), Haldma và Laats (2002). Lý thuyết cho rằng không tồn tại một mô hình hệ thống kế toán quản trị khuôn mẫu áp dụng cho mọi doanh nghiệp. Cấu trúc và mức độ vận dụng KTQT phụ thuộc vào các yếu tố ngữ cảnh bên ngoài (sự bất ổn của môi trường, mức độ cạnh tranh) và các yếu tố bên trong (quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tổ chức phân cấp, công nghệ sản xuất, chiến lược kinh doanh). Việc thiết kế KTQT phù hợp với ngữ cảnh sẽ giúp nâng cao thành quả hoạt động của doanh nghiệp.
  2. Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Diffusion Theory): Dựa trên công trình của Rogers (1983, 2003) và Tarde Gabriel. Quá trình tiếp nhận cái mới trong tổ chức trải qua 5 bước: nhận thức, phân tích, lựa chọn chấp nhận, triển khai và xác nhận cam kết. Lý thuyết giải thích mức độ lan tỏa của các công cụ KTQT hiện đại (ABC, BSC, Target Costing, TQM, JIT) và vai trò quyết định của đặc điểm nhà lãnh đạo (trình độ, sự ủng hộ) cùng năng lực của nhân viên kế toán (Kaplan và Cooper, 1998; Sulaiman và cộng sự, 2004; Ismail và King, 2007).
STT Lý thuyết nền tảng Nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng KTQT Kết quả kỳ vọng
1 Lý thuyết ngữ cảnh Sự bất ổn của môi trường (PEU) +
Mức độ cạnh tranh +
Công nghệ sản xuất (Tính phức tạp quy trình, CNSX tiên tiến, TQM, JIT) +
Cấu trúc tổ chức theo phân cấp quản lý +
Quy mô doanh nghiệp +
Chiến lược kinh doanh +
2 Lý thuyết khuếch tán Quy mô doanh nghiệp +
Cấu trúc tổ chức theo phân cấp quản lý +
Đặc điểm của nhà lãnh đạo (nhận thức, trình độ, sự ủng hộ) +
Trình độ nhân viên kế toán +
STT Lý thuyết nền tảng Tác động của vận dụng KTQT đến TQHĐ Kết quả kỳ vọng
1 Lý thuyết ngữ cảnh Vận dụng KTQT tác động đến TQHĐ (Tài chính và phi tài chính) +

Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Sử dụng bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc thang đo Likert, gửi đến các nhà quản lý, giám đốc tài chính, kế toán trưởng và nhân viên kế toán tại các doanh nghiệp dệt may trên toàn quốc. Mẫu nghiên cứu hợp lệ thu về gồm 216 doanh nghiệp dệt may Việt Nam.
  • Phương pháp xử lý và phân tích số liệu:
    • Mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM): Sử dụng để đánh giá mô hình đo lường (hệ số tải ngoài Outer loadings, độ tin cậy tổng hợp CR, phương sai trích trung bình AVE, hệ số phân biệt Fornell-Larcker), kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến (hệ số VIF inner value), và đánh giá mô hình cấu trúc (hệ số đường dẫn, giá trị thống kê t, giá trị mức ý nghĩa p, kích thước tác động $f^2$, hệ số xác định $R^2$, $R^2$ hiệu chỉnh, và giá trị dự báo $Q^2$).
    • Phương pháp phân tích cụm (Cluster Analysis): Ứng dụng để phân loại mức độ vận dụng các công cụ KTQT của 216 doanh nghiệp và định vị các nhóm doanh nghiệp tương ứng với 4 giai đoạn trong mô hình phát triển của IFAC (1998).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến vận dụng kế toán quản trị và tác động đến thành quả hoạt động

Chương này tổng kết có hệ thống cơ sở lý thuyết về KTQT, 5 nhóm công cụ KTQT (dự toán, tính giá, hỗ trợ ra quyết định, đánh giá thành quả, KTQT chiến lược), và 4 giai đoạn tiến hóa theo mô hình IFAC (1998) cùng mô hình Nishimura (2003). Tác giả phân tích nền tảng lý thuyết ngữ cảnh và lý thuyết khuếch tán đổi mới, đồng thời tổng hợp các kết quả nghiên cứu quốc tế và tại Việt Nam về 8 nhân tố tác động: sự bất ổn của môi trường (PEU), mức độ cạnh tranh, công nghệ sản xuất (tính phức tạp quy trình, AMT, TQM, JIT), quy mô doanh nghiệp, cấu trúc tổ chức, chiến lược kinh doanh, đặc điểm nhà lãnh đạo và trình độ nhân viên kế toán. Chương 1 chỉ rõ sự mâu thuẫn về chiều hướng tác động của một số nhân tố trong các nghiên cứu trước và làm nổi bật khoảng trống nghiên cứu trong ngành dệt may Việt Nam.

Chương 2: Thiết kế nghiên cứu

Chương 2 tập trung xây dựng khung nghiên cứu, thiết lập các giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa các nhân tố ngữ cảnh với mức độ vận dụng KTQT (MAPs), cũng như mối quan hệ giữa MAPs với 4 khía cạnh của thành quả hoạt động (tài chính, khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển). Chương này chi tiết hóa quá trình phát triển hệ thống thang đo cho từng biến số dựa trên việc kế thừa các thang đo chuẩn quốc tế và hiệu chỉnh cho phù hợp với ngành dệt may Việt Nam. Tác giả trình bày quy trình thiết kế phiếu khảo sát, phương thức tổ chức thu thập dữ liệu trên mẫu 216 doanh nghiệp, và quy trình phân tích dữ liệu định lượng bằng phần mềm PLS-SEM kết hợp phân tích cụm.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm của luận án:

  • Thống kê mô tả mẫu: Thống kê chi tiết đặc điểm đối tượng khảo sát (vị trí công tác, số năm làm việc, kinh nghiệm quản lý) và đặc điểm của 216 doanh nghiệp dệt may tham gia khảo sát (quy mô lao động, vốn, khu vực địa lý, phương thức sản xuất).
  • Thực trạng vận dụng KTQT: Phân tích tỷ lệ áp dụng các công cụ KTQT theo 5 nhóm chức năng; kết quả phân tích cụm phân loại các doanh nghiệp dệt may Việt Nam theo 4 giai đoạn của mô hình IFAC (1998).
  • Đánh giá mô hình đo lường: Các thang đo đạt độ tin cậy và giá trị hội tụ qua các chỉ số Outer loadings, Composite Reliability (CR) và Average Variance Extracted (AVE); đạt giá trị phân biệt theo tiêu chuẩn Fornell-Larcker.
  • Đánh giá mô hình cấu trúc và kiểm định giả thuyết: Kiểm tra hệ số phóng đại phương sai (VIF) khẳng định không xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng. Kết quả ước lượng hệ số đường dẫn, giá trị t và giá trị p giúp kiểm định các giả thuyết về tác động của các nhân tố đến MAPs và từ MAPs đến từng khía cạnh của TQHĐ. Kết quả phân tích giá trị tác động $f^2$, hệ số $R^2$, $R^2$ hiệu chỉnh và hệ số dự báo $Q^2$ khẳng định mức độ giải thích và năng lực dự báo của mô hình.

Chương 4: Bàn luận kết quả nghiên cứu và hàm ý chính sách

Chương này bàn luận chuyên sâu về các kết quả thực nghiệm đạt được:

  • Thảo luận về thực trạng vận dụng KTQT và định vị vị trí của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam trong mô hình IFAC, chỉ ra mức độ phổ biến của các công cụ truyền thống và sự hạn chế của các công cụ hiện đại.
  • Thảo luận chiều hướng và mức độ tác động của từng nhân tố ngữ cảnh (môi trường bên ngoài, công nghệ sản xuất, cấu trúc tổ chức, chiến lược, năng lực lãnh đạo và nhân viên kế toán) đến việc áp dụng KTQT trong ngành dệt may.
  • Thảo luận tác động tích cực của việc vận dụng KTQT đến thành quả hoạt động tài chính và phi tài chính.
  • Đề xuất các hàm ý chính sách và giải pháp quản trị thực tiễn cho doanh nghiệp dệt may, cơ quan quản lý và hiệp hội ngành nghề nhằm thúc đẩy KTQT, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh.
  • Trình bày các hạn chế của đề tài và đề xuất định hướng cho các nghiên cứu tiếp theo.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận:

  • Luận án đã kết hợp lý thuyết ngữ cảnh và lý thuyết khuếch tán đổi mới để xây dựng mô hình nghiên cứu toàn diện, giải thích đồng thời ảnh hưởng của các nhân tố bên trong và bên ngoài đến mức độ vận dụng KTQT và tác động của KTQT đến thành quả hoạt động đa chiều (tài chính và phi tài chính).
  • Điều chỉnh, bổ sung và hoàn thiện hệ thống thang đo đánh giá các công cụ KTQT theo 5 nhóm chức năng và tích hợp với khung 4 giai đoạn phát triển của mô hình IFAC (1998) trong bối cảnh ngành công nghiệp dệt may tại một quốc gia đang phát triển.

Đóng góp về mặt thực tiễn:

  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về thực trạng vận dụng các công cụ KTQT và định vị giai đoạn phát triển KTQT của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam dựa trên kỹ thuật phân tích cụm theo mô hình IFAC.
  • Xác định rõ mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố ngữ cảnh (nhận diện bất ổn môi trường, mức độ cạnh tranh, công nghệ sản xuất, quy mô, cấu trúc phân cấp, chiến lược, đặc điểm nhà lãnh đạo, trình độ nhân viên kế toán) đến việc áp dụng KTQT.
  • Chứng minh thực nghiệm tác động của việc vận dụng KTQT đến việc nâng cao thành quả hoạt động trên cả khía cạnh tài chính (ROA, ROE, ROI, ROS) và phi tài chính (khách hàng, quy trình nội bộ, học hỏi và phát triển), tạo cơ sở để doanh nghiệp nâng cao giá trị gia tăng và dịch chuyển phương thức sản xuất từ CMT lên FOB/ODM.

Kiến nghị và giải pháp đề xuất:

  • Đối với doanh nghiệp dệt may: Cần đầu tư đổi mới công nghệ sản xuất, chuẩn hóa quy trình phân cấp quản lý, nâng cao nhận thức của lãnh đạo về KTQT chiến lược, bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ nhân viên kế toán, và từng bước áp dụng các công cụ KTQT hiện đại như thẻ điểm cân bằng (BSC), chi phí dựa trên hoạt động (ABC), chi phí mục tiêu, TQM và JIT.
  • Đối với cơ quan quản lý và các tổ chức nghề nghiệp: Cần tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý, ban hành các văn bản hướng dẫn thực hành kế toán quản trị chuyên ngành và tổ chức các chương trình đào tạo nghiệp vụ KTQT cho các doanh nghiệp dệt may.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát giới hạn trong các doanh nghiệp dệt may Việt Nam, chưa thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và các hộ sản xuất kinh doanh cá thể trong ngành.
  • Dữ liệu nghiên cứu mang tính chất cắt ngang (cross-sectional) được thu thập chủ yếu trong giai đoạn 2018 – 2021, thời điểm chịu tác động bất thường từ dịch bệnh Covid-19 và biến động kinh tế toàn cầu.
  • Việc thu thập dữ liệu sơ cấp qua bảng hỏi khảo sát có thể chịu ảnh hưởng bởi nhận thức chủ quan của người trả lời.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các doanh nghiệp FDI trong ngành dệt may để so sánh đối chiếu sự khác biệt về mức độ vận dụng KTQT giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
  • Tiến hành các nghiên cứu theo chuỗi thời gian (longitudinal study) nhằm theo dõi sự dịch chuyển qua các giai đoạn phát triển KTQT của doanh nghiệp khi tiến trình chuyển đổi số và nâng cấp công nghệ hoàn thiện.
  • Mở rộng mô hình nghiên cứu sang các ngành sản xuất công nghiệp xuất khẩu trọng điểm khác của Việt Nam như da giày, chế biến gỗ hoặc điện tử.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Công trình là tài liệu tham khảo trong việc vận dụng kết hợp lý thuyết ngữ cảnh và lý thuyết khuếch tán; cung cấp quy trình thiết kế nghiên cứu định lượng chuẩn mực với mô hình PLS-SEM và kỹ thuật phân tích cụm định vị theo khung IFAC.
  • Đối với nhà quản trị doanh nghiệp dệt may: Cung cấp bức tranh thực trạng và căn cứ thực tiễn để lựa chọn, thiết kế hệ thống công cụ KTQT phù hợp với quy mô, công nghệ và chiến lược, phục vụ công tác kiểm soát chi phí và cải thiện thành quả hoạt động.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước và Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS): Cung cấp dữ liệu thực chứng phục vụ việc xây dựng chính sách hỗ trợ phát triển chuỗi giá trị dệt may, chuyển dịch phương thức sản xuất và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án sử dụng mô hình lý thuyết nào để định vị các giai đoạn phát triển kế toán quản trị của doanh nghiệp dệt may? Luận án sử dụng mô hình 4 giai đoạn phát triển KTQT của Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC, 1998) làm khung đánh giá chính kết hợp kỹ thuật phân tích cụm, đồng thời tham chiếu mô hình 4 giai đoạn của Nishimura (2003).
  2. Hệ thống công cụ kế toán quản trị được phân loại theo những nhóm chức năng nào trong luận án? Các công cụ KTQT được phân chia thành 5 nhóm chức năng chính (kế thừa từ Chenhall và Langfield-Smith, 1998; Abdel-Kader và Luther, 2006; Ahmad, 2012): (1) Công cụ xây dựng dự toán; (2) Công cụ về tính giá; (3) Công cụ hỗ trợ ra quyết định; (4) Công cụ đánh giá thành quả; (5) Công cụ kế toán quản trị chiến lược.
  3. Quy mô mẫu và phương pháp phân tích dữ liệu định lượng chính của luận án là gì? Luận án khảo sát mẫu gồm 216 doanh nghiệp dệt may Việt Nam tại 3 miền Bắc, Trung, Nam trong giai đoạn 2018 – 2021. Phương pháp phân tích bao gồm mô hình cấu trúc bình phương nhỏ nhất từng phần (PLS-SEM) và phương pháp phân tích cụm (Cluster Analysis).
  4. Thành quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường qua những khía cạnh cụ thể nào? Thành quả hoạt động được đánh giá toàn diện gồm khía cạnh tài chính (thông qua các chỉ tiêu như ROA, ROE, ROI, ROS) và khía cạnh phi tài chính (khía cạnh khách hàng, khía cạnh quy trình nội bộ, khía cạnh học hỏi và phát triển) dựa trên khung thẻ điểm cân bằng (BSC).
  5. Những lý thuyết nền tảng nào được sử dụng để giải thích các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng kế toán quản trị? Luận án dựa trên hai lý thuyết nền tảng chính: Lý thuyết ngữ cảnh (Contingency Theory) và Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Diffusion Theory).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Kim Ngọc là công trình nghiên cứu hệ thống về việc vận dụng kế toán quản trị và tác động của nó đến thành quả hoạt động trong ngành dệt may Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng PLS-SEM kết hợp phân tích cụm trên mẫu 216 doanh nghiệp, tác giả đã định vị giai đoạn phát triển KTQT theo mô hình IFAC và làm rõ vai trò của các nhân tố ngữ cảnh bên trong cũng như bên ngoài. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc vận dụng KTQT đóng góp tích cực vào việc nâng cao thành quả tài chính và phi tài chính, cung cấp luận cứ khoa học cho các nhà quản trị doanh nghiệp dệt may nâng cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu.