Chương 1 đồng thời xác định rõ được ý nghĩa cũng như bố cục của bài luận. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Tổng quan các nghiên cứu 2. Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Meidawati và Assidiqi (2019) nghiên cứu về “The influences of audit fee, competence, independence, audit ethics, and time budget pressure on audit quality” (tạm dịch: “Ảnh hưởng của phí kiểm toán, năng lực, tính độc lập, đạo đức nghề nghiệp kiểm toán viên và áp lực quỹ thời gian lên chất lượng cuộc kiểm toán”) ở Indonesia.
Sử dụng phương pháp định lượng nhằm phân tích dữ liệu thông qua bảng khảo sát các câu hỏi, trong đó số lượng mẫu gồm 45 mẫu đến từ các kiểm toán viên làm việc tại các công ty kiểm toán ở thành phố Semarang, Indonesia. Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để phân tích dữ liệu. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên càng cao, chất lượng cuộc kiểm toán càng tốt. Điều đó cho thấy kiểm toán viên tại Indonesia cân nhắc tốt về nghĩa vụ kiểm toán và tính tự giác cao về tuân thủ đạo đức nghề nghiệp.
Bài nghiên cứu “Auditors’ ethical reasoning in developing countries: the case of Egypt” (tạm dịch: “Lý luận về đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên tại các nước đang phát triển: nghiên cứu tại Ai Cập) của Abdelhak và các cộng sự (2019) nhắm đến mục tiêu tìm hiểu về tác động của quy mô công ty kiểm toán và vị trí của kiểm toán viên lên nhận thức đạo đức nghề nghiệp kiểm toán. Sử dụng phương pháp định lượng phân tích dữ liệu từ 178 mẫu khảo sát ngẫu nhiên bao gồm 6 tình huống khác nhau về đạo đức nghề nghiệp, thực hiện bởi các kiểm toán viên tại các công ty thuộc Big 4, các công ty có quy mô vừa và nhỏ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù xuất hiện mối quan hệ tác động ngược chiều giữa quy mô công ty và đạo đức nghề nghiệp, cùng với vị trí kiểm toán viên tăng dẫn đến nhận thức đạo đức giảm nhưng nhận thức về tuân thủ đạo đức của kiểm toán viên ở Ai Cập cao hơn mức trung bình, đáp ứng yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp. Tổng quan các nghiên cứu trong nước 7 Tác giả Hoàng Thị Bích Thủy (2022) với đề tài “Các nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức đạo đức của kiểm toán viên tại các công ty kiểm toán độc lập tại Việt Nam” đề cập đến các nguyên nhân dẫn đến sai phạm ảnh hưởng đến nhận thức tuân thủ đạo đức nghề nghiệp.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng thông qua phần mềm SPSS 26 nhằm kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội tại Việt Nam. Dữ liệu phân tích được thu thập thông qua bảng khảo sát bằng các nền tảng thuận tiện. Các nguyên nhân ảnh hưởng đến nhận thức đạo đức nghề nghiệp bao gồm văn hóa công ty, quy mô công ty và vị trí kiểm toán viên. Trong đó, kết quả nghiên cứu cho thấy nhận thức đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên tại Việt Nam quyết định bởi ý thức và hành vi có đạo đức hơn là dựa trên lợi ích chung giữa các cá nhân.
Về các nguyên nhân ảnh hưởng, vị trí kiểm toán viên không có tác động đến nhận thức đạo đức nghề nghiệp, khác biệt so với các nghiên cứu đi trước trên thế giới. Riêng văn hóa và quy mô công ty có ảnh hưởng đến nhận thức đạo đức của kiểm toán viên. Đề tài “Ảnh hưởng của đạo đức nghề nghiệp của kiểm toán viên tới chất lượng kiểm toán tại các Công ty kiểm toán ở TP. HCM” của tác giả Hoàng Thị Mỹ Linh (2018) đề cập đến các nhân tố thuộc đạo đức nghề nghiệp có tác động đến chất lượng kiểm toán, bao gồm thái độ nghề nghiệp, trình độ chuyên môn, mức độ chuyên sâu, kinh nghiệm, tính độc lập, thời gian kiểm toán, quy trình kiểm toán và thủ tục kiểm soát chất lượng của công ty kiểm toán.
Tác giả sử dụng phương pháp hỗn hợp để xây dựng nguồn dữ liệu hợp lý, gồm 303 mẫu khảo sát. Từ đó xem xét và xây dựng mô hình hồi quy tuyến bội. Việc phân tích dữ liệu được thực hiện bằng phần mềm SPSS 20. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng cuộc kiểm toán chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố trên, trong đó nhân tố thái độ nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến chất lượng kiểm toán.
Khoảng trống nghiên cứu Từ các nghiên cứu trên, có thể kết luận được nhận thức tuân thủ đạo đức nghề nghiệp tốt dẫn đến chất lượng kiểm toán tốt hơn, đảm bảo được tính minh bạch và hợp lý của BCTC. Trong đó, bài nghiên cứu của Abdelhak và các cộng sự (2019) có 8 đề cập đến 2 nhân tố tác động lên tính tuân thủ đạo đức bao gồm quy mô công ty và vị trí kiểm toán viên, đây là một nghiên cứu quan trọng có liên quan đến nguyên nhân dẫn đến sai phạm thuộc quyết định đạo đức của KiTV. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Hoàng Thị Bích Thủy (2022) kế thừa 2 nhân tố trên cùng với nhân tố thứ 3 về văn hóa tổ chức đạo đức và được thực hiện kiểm định tại Việt Nam góp phần cung cấp thêm bằng chứng khác biệt giữa nghiên cứu nước ngoài và nghiên cứu trong nước, cũng như cơ sở lý luận về nguyên nhân ảnh hưởng đến ĐĐNN tại Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong nước và ngoài nước chủ yếu tập trung kiểm định sự ảnh hưởng của đạo đức KiTV đối với chất lượng cuộc kiểm toán, rất ít nghiên cứu riêng về những nhân tố tác động đến việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp KiTV tại TP.
Hồ Chí Minh. Do đó, tác giả lựa chọn đề tài này vì đây là khoảng trống nghiên cứu. 9 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Trong nội dung chương 2, tác giả tổng quan các nghiên cứu nước ngoài và trong nước liên quan đến đề tài các nhân tố tác động đến tính tuân thủ đạo đức nghề nghiệp. Từ đó nêu lên sự tương đồng, khác nhau giữa các nghiên cứu và xác định được khoảng trống từ những nghiên cứu đó nhằm đưa ra hướng đi phù hợp cho đề tài.
10 CHƯƠNG 3: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3. Các khái niệm nền tảng 3. Đạo đức Theo lịch sử triết học, đạo đức được phân chia thành hai chiều hướng, gồm chiều hướng “đạo đức quy chuẩn” và “đạo đức học siêu hình”. Tuy nhiên, tư tưởng đạo đức được tập trung phát triển chủ yếu theo chiều hướng thứ nhất, dựa trên tư tưởng đạo đức của Socrates.
Tư tưởng này nghiên cứu các giá trị, nguyên tắc và tiêu chuẩn đạo đức như bổn phận, nhân đức, … nhằm tìm ra câu trả lời về việc một cá nhân nên hành xử như thế nào để đảm bảo các giá trị nền tảng của mỗi tiêu chuẩn đạo đức luôn được thể hiện một cách toàn vẹn. Tương tự, theo từ điển tiếng Việt, đạo đức là hình thái ý thức của xã hội, trong đó tập hợp những nguyên tắc, chuẩn mực mà xã hội thừa nhận, giúp điều chỉnh cách đánh giá và cách ứng xử của con người một cách tự nguyện trong quan hệ với nhau cũng như với xã hội. Từ đó, thể hiện những giá trị tốt đẹp trong tính cách và tâm hồn của mỗi người. Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu đạo đức là những phẩm chất chuẩn mực tốt đẹp được quy định, hình thành bởi ý thức xã hội hay là một giá trị bẩm sinh của các cá nhân hướng đến hành vi ứng xử và nhận thức đúng mực, giúp mối quan hệ giữa con người và xã hội được công bằng, trung thực.
Đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp là một phần của đạo đức, bao gồm các nguyên tắc, chuẩn mực về nhận thức và hành vi mà các cá nhân cần tuân thủ để thể hiện hành vi chuyên nghiệp, trách nhiệm đối với công việc của mình. Mỗi ngành nghề đều có đạo đức nghề nghiệp phù hợp với đặc thù của từng lĩnh vực hoạt động đó do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quy định. Tuân thủ là hành động tuân theo các quy định, quy tắc và chuẩn mực đã được thiết lập. Đối với ngành kiểm toán, việc hoạt động vì lợi ích của cộng đồng đã tạo ra 11 sự kỳ vọng của xã hội đối với KiTV, do đó đòi hỏi ở KiTV cần tuân thủ tốt nguyên tắc đạo đức, có tinh thần trách nhiệm và nhận thức đúng mực để nhận được sự tin tưởng của công chúng vào hoạt động kiểm toán.
Theo thông tư 70/2015/TT-BTC và chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (ban hành kèm theo Thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 6 tháng 12 năm 2012 của Bộ Tài chính) quy định KiTV cần tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp sau: Tính chính trực: Phải thẳng thắn, trung thực trong tất cả các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh. Tính khách quan: Không cho phép sự thiên vị, xung đột lợi ích hoặc bất cứ ảnh hưởng không hợp lý nào chi phối các xét đoán chuyên môn của mình. Năng lực chuyên môn và tính thận trọng: Thể hiện, duy trì sự hiểu biết và kỹ năng chuyên môn cần thiết nhằm đảm bảo rằng khách hàng hoặc chủ doanh nghiệp được cung cấp dịch vụ chuyên môn có chất lượng dựa trên những kiến thức mới nhất về chuyên môn, pháp luật và kỹ thuật, đồng thời hành động một cách thận trọng và phù hợp với các chuẩn mực nghề nghiệp và kỹ thuật được áp dụng. Tính bảo mật: Phải bảo mật thông tin có được từ các mối quan hệ chuyên môn và kinh doanh.
Vì vậy, không được tiết lộ bất cứ thông tin nào cho bên thứ ba khi chưa được sự đồng ý của bên có thẩm quyền, trừ khi có quyền hoặc nghĩa vụ phải cung cấp thông tin theo yêu cầu của pháp luật hoặc cơ quan quản lý hoặc tổ chức nghề nghiệp, và cũng như không được sử dụng thông tin vì lợi ích cá nhân của KiTV. Tư cách nghề nghiệp: Phải tuân thủ pháp luật và các quy định có liên quan, tránh bất kỳ hành động nào làm giảm uy tín nghề nghiệp của mình. Vậy việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp kiểm toán là tuân theo các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp để đảm bảo tính trung thực, khách quan nhằm duy trì lòng tin của công chúng và thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính một cách chính xác và công tâm. Thuyết mục đích Thuyết mục đích của Plato và Aristoltle, có nguồn gốc từ triết học Hy Lạp cổ đại vào khoảng năm 380 trước Công nguyên, khẳng định rằng mục tiêu và kết quả có thể xác định được trong tương lai định hình hành vi đạo đức của cá nhân ở hiện tại.