CHƯƠNG 1: TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CO SO LY LUAN VE HE THONG KIEM SOAT NOI BO TRONG DOANH NGHIEP 1. Tổng quan nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Vulley (2022) xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngành ngân hàng ở Ghana. Nghiên cứu đã áp dụng phương pháp định lượng bằng cách sử dụng thiết kế khảo sát dé thu thập dữ liệu từ 130 người tham gia từ các ngân hàng thương mại được chọn ở Ghana.
Đề phân tích dữ liệu, phần mềm SPSS đã được sử dụng. Một số kiêm định thống kê mô tả và kết hợp giữa Phân tích nhân tố khám phá (EFA) và Phân tích nhân tố khăng định (CFA) đã được sử dụng. Các công cụ thống kê được sử dụng bao gồm hồi quy trung bình, độ lệch chuẩn, tần suất và bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS). Nghiên cứu đã tìm thấy các yếu tố quan trọng thúc day hệ thống Kiểm soát nội bộ (ICS) trong lĩnh vực ngân hàng ở Ghana bao gồm kiểm soát môi trường, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, công nghệ truyền thông thông tin (ICT) và các hoạt động giám sát.
Nghiên cứu đã phát hiện ra rằng một số cách cần thiết dé cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ bao gồm sửa đổi nhất quán các chính sách và thủ tục cũng như cung cấp đào tạo và truyền thông đầy đủ về ICS cho nhân viên. Tác giả cũng khuyến nghị rằng nhân viên nên tham gia vào việc phát triển các cơ chế kiểm soát dé khiến họ tham gia vào hệ thống, điều nay sẽ thúc đây việc thực thi hệ thống dé tác động đến hiệu quả hoạt động. Nghiên cứu của Tian & He (2016) cũng tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp niêm yết. Tác giả đã xác định và trình bày về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ thống kiểm soát nội bộ, sau đó, các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ được nghiên cứu dé cung cấp tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai, từ đó thúc đây hơn nữa sự phát triển lành mạnh và lành mạnh của cơ chế kiểm soát nội bộ của Công ty niêm yết.
Bài viết của GŒökoglanl & cộng sự (2022) cũng tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các cơ quan nhà nước tại Tinh Diyarbakir thuộc đất nước Thổ Nhĩ Kỳ. Nghiên cứu đã sử dụng bảng hỏi dựa trên thang đo Likert 7 cấp độ và khảo sát 107 nhân viên tại các công ty tại địa bàn nghiên cứu. Nghiên cứu kết luận rằng, có một mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê giữa tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ và năng lực của công chức, tính hữu hiệu của hệ thong kiểm toán nội bộ công, sự hỗ trợ của ban lãnh đạo cấp cao đối với hệ thống kiểm soát nội bộ công và việc sử dụng công nghệ thông tin trong hệ thống kiểm soát nội bộ công. Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu của Tu Chuc Anh & cộng sự (2020) đề đánh giá tác động của 5 yếu tố thành phần của kiểm soát nội bộ đến các công tu sản xuất xi măng tại Việt Nam.
Nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát 210 cán bộ quản lý và nhân viên tại các công ty xi măng Việt Nam với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS và đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha và phương pháp phân tích nhân tố khám phá (EFA). Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố trên có mối quan hệ thuận chiều với tính hữu hiệu của KSNB. Đồng thời, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm duy trì và phát huy tính hữu hiệu của KSNB đối với các nhà quản lý tại các công ty xi măng. Nghiên cứu của Ho Tuan Vu (2016) nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam.
Thông qua phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng dựa trên độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tổ khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội (MRA). Theo báo cáo của các tổ chức COSO và các tác giả khác, môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; thông tin và giao tiếp; hoạt động kiểm soát, giám sát có thể ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại. Ngoài ra, nghiên cứu này đã chỉ ra răng có hai nhân tô mới có tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam: thể chế chính trị và nhóm lợi ích. Bài báo của Tran & cộng sự (2021) cũng có mục tiêu tương tự khi tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB tại các ngân hàng được niêm yết tại Việt Nam.
Bài báo sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất thông thường và thang do Likert 7 cấp độ dé kiểm định các biến ảnh hưởng đến chat lượng kiểm soát nội bộ tại 18 ngân hàng niêm yết của Việt Nam. Bài báo đã khảo sát 179 lãnh dao của các ngân hàng niêm yết. Kết qua cho thấy có 3 biến trong tổng số 5 biến có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng kiểm soát nội bộ là môi trường kiểm soát, hoạt động kiểm soát và giám sát. Theo đó, các nhà quản lý ngân hàng niêm yết Việt Nam cần quan tâm xây dựng môi trường văn hóa doanh nghiệp, nâng cao chất lượng hoạt động kiểm soát, thực hiện giám sát định kỳ, thường xuyên.
Nó góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ và cũng là cơ hội gia tăng lợi ích kinh tế cho các ngân hàng niêm yết Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc 1. Lý thuyết về hệ thống kiểm soát nội bộ 1. Khai niệm kiểm soát nội bộ Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” lần đầu tiên được định nghĩa bởi Viện Kế toán Hoa Kỳ (nay là Viện Kế toán Công chứng Hoa Kỳ) vào năm 1949. Viện đã hoàn thiện định nghĩa này vào năm 1958 và 1972 (Lauren, 2017).
Định nghĩa được đưa ra như sau: “Kiểm soát nội bộ bao gom kế hoạch tổ chức và tat cả các phương pháp và biện pháp phối hợp được áp dung trong một doanh nghiệp dé bảo vệ tài sản của mình, kiểm tra tính chính xác và độ tin cậy của đữ liệu kế toán, thúc day tinh hiéu lực và hiệu quả hoạt động; khuyến khích tuân thủ chính sách quan lý theo quy định ” (trích dẫn trong Heier & cộng sự (2005)). Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 315: “KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban Giảm đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sự đảm bảo hop ly vé kha năng đạt được mục tiêu cua đơn vị trong việc dam bảo độ tin cậy cua báo cáo tai chính, đảm bảo hiệu qua, hiệu suất hoạt động, tuân thi pháp luật và các quy định có liên quan. Luật Kế toán 2015: “KSNB là việc thiết lập và tô chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro va đạt duoc yêu câu đề ra.” (Quốc hội, Luật kế toán — điều 39) Theo COSO năm 1992 (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commission) - Uy ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tai chính, KSNB là một quá trình do người quan lý, hội đồng quản tri và các nhân viên của đơn vi chi phối, nó được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lí nhằm thực hiện mục tiêu: (i) Báo cáo tài chính đáng tin cậy; (ii) Các luật lệ và quy định được tuân thủ; (11) Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả. Sau hơn 20 năm, COSO đã ban hành ban cập nhật mới là COSO Internal Control 2013, theo đó, KSNB là một quy trình đưa ra bởi Ban quản tri của doanh nghiệp, nhà quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đưa ra sự đảm bảo cho việc đạt được mục tiêu về hoạt động, báo cáo và tuân thủ.
Tóm lại, một cách tổng quát nhất KSNB là những phương pháp và chính sách được thiết kế dé đảm bảo một cách hợp lý về việc ngăn chặn gian lận, giảm thiểu sai sót nhằm đạt được các mục tiêu tuân thủ, hoạt động và báo cáo. Lịch sử hình thành và phát triển của kiểm soát nội bộ Năm 1992, Ủy ban Chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính (COSO) đã phát triển một khuôn khổ được gọi là “Kiểm soát nội bộ — Khuôn khổ tích hợp” dé giúp các công ty thuộc mọi nganh và quy mô đo lường tính hiệu lực và hiệu quả của các cau trúc kiểm soát nội bộ của họ. Được biết đến nhiều hơn với tên gọi Khuôn khổ COSO năm 1992 (1992 COSO Framework), nó đặt nền tảng để đảm bảo chất lượng cao nhất có thé của các báo cáo tài chính do các công ty tạo ra. Nền tảng này cung cấp cho người áp dụng “sự đảm bảo hợp lý” rằng các con số trong báo cáo tài chính là chính xác nhất có thé và có thể được sử dụng để đưa ra định hướng cho quản lý cap cao hơn trong việc ra quyét định của họ.
10 Khuôn khổ COSO năm 1992 là khuôn khổ đầu tiên triển khai việc sử dung “Kim tự tháp COSO” (Hình 1.1), đưa ra năm nguyên lý của các thành phần kiểm soát COSO, bao gồm: Môi trường kiểm soát, Đánh giá rủi ro, Hoạt động kiểm soát, Thông tin & Truyền thông và Hoạt động giám sát. Bắt đầu từ dưới lên, trong đó việc hoàn thành một cấp độ đương nhiên dẫn đến hoàn thành cấp độ tiếp theo, các thành phan này phối hợp với nhau dé hỗ trợ nhiệm vụ quản lý rủi ro, chiến lược và tất cả các mục tiêu kinh doanh liên quan cho công ty.1: Kim tự tháp COSO (1992) Nguồn: Tác giả Mặc dù khuôn khổ COSO 1992 cực kỳ hiệu quả trong việc đánh giá bất kỳ biện pháp kiểm soát hiện có nào, khuôn khổ năm 1992 thiếu định hướng và tính toàn diện dé hỗ trợ các công ty thực hiện các bước và tiêu chuẩn cần thiết dé thiết lập cấu trúc kiểm soát nội bộ hiệu quả của riêng họ.